Giải nobel kinh tế bị trao nhầm?

Thứ bảy, 16/05/2009 13:23
Nhà bình luận này thẳng thừng nhận xét, giải Nobel Kinh tế "gây hại nhiều hơn là đem đến những điều tốt đẹp", không giống như tinh thần trao giải cho những ai "đem tới lợi ích lớn nhất cho loài người" mà nhà khoa học Alfred Nobel, cha đẻ của giải Nobel đã đề ra.

Nhà kinh tế học Friedrich Hayek, người được trao giải năm 1974 từng nói rằng, lẽ ra ông đã đề nghị Ngân hàng Trung ương Thụy Điển không lập ra giải thưởng này.

Hayek cho rằng, giải Nobel Kinh tế "trao cho một cá nhân riêng lẻ thứ thẩm quyền mà trong kinh tế học, không một ai nên được sở hữu". Cũng theo nhà kinh tế này, những người được giải Nobel Kinh tế cần phải được yêu cầu "đưa ra lời thề về sự khiêm tốn... không bao giờ được đi quá giới hạn năng lực của mình trong những tuyên bố trước dư luận".

Tuy nhiên, nhà bình luận Swann cho rằng, điều đáng buồn là các nhà kinh tế học nói chung đã không có được sự khiêm tốn như vậy. Giải Nobel Kinh tế đã khuyến khích người ta cường điệu hóa tính khoa học của lĩnh vực kinh tế vốn có dính dáng nhiều đến yếu tố chính trị này.

Không giống như các nhà khoa học thuộc các bộ môn vật lý, hóa học hay y học, các nhà kinh tế học thể hiện quyền lực của họ khi đưa ra các dự báo. Khi khủng hoảng tài chính 2008 nổ ra, không ít người đã ngạc nhiên khi đa phần các nhà kinh tế đã không tiên liệu trước được điều này. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy, thất bại trong dự báo này không phải là chuyện lạ.

Trong vòng 20 năm trở lại đây, các chuyên gia kinh tế đã không dự báo được bất kỳ thời kỳ suy giảm tăng trưởng mạnh nào của kinh tế Mỹ.

Ông Geogre Meany (1894 - 1980), nhà lãnh đạo công đoàn ở Mỹ, từng nói rằng, làm nhà kinh tế học "là nghề duy nhất trong đó một người có thể được coi là chuyên gia mà không cần phải đúng một lần nào".

Tệ hơn, ban giám khảo của giải Nobel đã trao giải Kinh tế cho những ý tưởng vô cùng độc hại. Swann chỉ ra rằng, các lý thuyết giành giải Nobel chính là nguyên nhân phía sau những vụ sụp đổ thị trường lớn nhất kể từ sau đại suy thoái 1930 tới nay.

Vào năm 1987, mô hình định giá các chứng khoán quyền chọn Black-Scholes-Merton của ba tác giả cùng tên đã đẩy thị trường chứng khoán Phố Wall rơi sâu với tốc độ sụt giảm tồi tệ chưa từng có trong 1 ngày, đe dọa sự an toàn của toàn bộ hệ thống.

Mô hình định giá này sau đó đã bị các nhà giao dịch cổ phiếu từ chối, nhưng một thập kỷ sau lại được nhận giải thưởng Nobel Kinh tế.

Hay mô hình "Value at Risk" (giá trị ở trạng thái rủi ro) - dựa trên các lý thuyết danh mục đã đoạt giải Nobel Kinh tế của Harry Markowitz - bị xem là "tội đồ" gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính 1998 và 2008.

Lý thuyết này đã khuyến khích các định chế tài chính vay nợ vượt xa số vốn tự có để đầu tư rủi ro, rốt cục rơi vào khủng hoảng.

"Những lý thuyết này đã biến sự bình yên thành náo loạn, tạo ra khủng hoảng từ chỗ không có gì. Giải Nobel Kinh tế đã khiến người ta tin tưởng những lý thuyết như vậy", ông Pablo Triana, tác giả của cuốn sách tựa đề Lecturing Birds on Flying: Can Mathematical Theories Destroy the Financial Markets? (tạm dịch: "Dạy chim bay: Liệu các lý thuyết toán học có thể phá hủy thị trường tài chính?").

Ngoài ra, nhà bình luận Swann còn chỉ ra các lý thuyết kinh tế được trao giải Nobel còn khuyến khích đi ngược lại hoạt động giám sát thị trường, như những gì mà các nhà hoạch định chính sách như cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greespan đã làm. Một danh sách dài những nhà kinh tế đoạt giải đã thúc đẩy ý tưởng rằng các chính phủ nên đứng ngoài thị trường.

Bởi vậy, Swann cho rằng, giải Nobel Kinh tế không nên được "khoác tấm áo" của giải Nobel danh tiếng. Cuối cùng, nhà bình luận này cảnh báo, không nên sử dụng các lý thuyết được trao giải Nobel Kinh tế, vì các tác dụng phụ của các lý thuyết này bao gồm khủng hoảng tài chính, thị trường chứng khoán chao đảo và ngân hàng sụp đổ.

Giải thưởng Nobel Kinh tế ra đời từ năm 1969 vốn được xem là đất dụng võ dành riêng cho các nhà nghiên cứu Mỹ vì từ đó đến nay, 45 kinh tế gia trên tổng số 64 đều là các nhà nghiên cứu của Mỹ.

"Các nhà quản lý quan liêu đôi khi không có thông tin chính xác, còn các công dân và người sử dụng tài sản đó lại hiểu rõ thông tin" - Ostrom giải thích về nghiên cứu của mình. Ủy ban giải thưởng đã đề cao nghiên cứu ví dụ của bà về một đập nước ở Nepal, nghiên cứu này đã đưa việc phân tích các thể chế kinh tế phi thị trường "từ ngoài rìa trở thành trung tâm của phân tích kinh tế".

Theo MP

XEM THÊM:
Ý kiến của bạn !
Xem thêm

Truyền hình Việt NamNet