Mưu tính thâm hiểm của gã bác sĩ giết vợ để cưới nhân tình

Màn kịch giết vợ của một chuyên gia pháp y lừng danh tại Mỹ tinh vi đến nỗi cơ quan công tố phải chờ nhiều năm để vạch tội hắn.

Ngày 30/5/1991, một trường hợp tử vong kỳ lạ xảy ra ở thành phố Florida Panhandle, bang Florida, Mỹ. Nạn nhân là Kat Sybers, vợ của chuyên gia pháp y nổi tiếng William Sybers. Khi cảnh sát và nhân viên y tế đến nhà của Kat, họ thấy hai vết kim tiêm trên cánh tay của người phụ nữ 52 tuổi. Tuy nhiên, khi bác sĩ William về nhà, ông khẳng định vợ đột tử vì đau tim nên không yêu cầu khám nghiệm tử thi.

Sự kiên quyết của William khiến cảnh sát ngạc nhiên vì ông làm trái quy định của ngành pháp y. Khi công tố viên chất vấn William về việc đó, vị bác sĩ nói rằng cái chết của vợ khiến ông bối rối nên đã quyết định sai lầm.

Mối tình ngoài luồng của gã bác sĩ

Theo thông lệ, cảnh sát yêu cầu William tường thuật những việc ông đã thực hiện trước khi Kay qua đời. Vị bác sĩ kể rằng vào khoảng 4h sáng hôm 30/5/1991, Kay cảm thấy đau ở ngực và vai trái. Vì Kay mắc bệnh tim và tiểu đường nên William rất lo lắng. Cầm một xi lanh, ông lấy máu trên cánh tay phải của vợ để xét nghiệm khi tới cơ quan. Thất bại sau hai lần lấy máu, ông đành bỏ cuộc và để vợ ngủ tiếp. Khi tới chỗ làm, William gọi điện về nhà vài lần để kiểm tra tình trạng của vợ, song bà không nhấc máy.

Công tố viên yêu cầu William cho họ xem xi lanh mà ông dùng để lấy máu của Kay, nhưng vị bác sĩ đáp rằng ông đã vứt xi lanh trên đường tới cơ quan.

Mưu tính thâm hiểm của gã bác sĩ giết vợ để cưới nhân tình-1William Sybers từng là một trong những chuyên gia pháp y nổi tiếng nhất nước Mỹ về trình độ chuyên môn (Ảnh: abcnews).

Dữ liệu từ mọi hồ sơ y tế của Kay Sybers cho thấy bà không mắc bệnh tim hay tiểu đường như lời khai của William. Cơ quan công tố nhờ một chuyên gia pháp y độc lập khám nghiệm tử thi Kay. Vị chuyên gia kết luận hai vết kim tiêm trên cánh tay phải của Kay mang những đặc điểm của việc tiêm chất lỏng vào cơ thể, chứ không phải hút máu vào xi lanh. Tim và các cơ quan nội tạng của Kay đều bình thường, không có tổn thương. Vì thế, nguy cơ đột tử của bà gần như bằng không.

Dữ liệu lịch sử cuộc gọi của William cho thấy ông thường xuyên gọi tới số điện thoại của một nữ kỹ thuật viên y khoa cùng làm với ông. Cô gái này chỉ hơn con gái ông vài tuổi. Khi gặp công tố viên, người phụ nữ thừa nhận cô và William có quan hệ tình cảm. Theo các công tố viên, William có động cơ sát hại vợ để có thể tiếp tục cuộc tình ngoài luồng với nữ kỹ thuật viên.

Tập trung điều tra với giả thuyết William giết vợ, các công tố viên gửi các mẫu mô và máu của Kay tới Trung tâm Dịch vụ Y khoa Quốc gia ở bang Pennsylvania. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng Kali trong nước mắt của Kay cao bất thường.

Cơ thể người có thể sản xuất Kali với hàm lượng rất thấp. Nếu hàm lượng Kali trong máu cao hơn mức bình thường, tim sẽ ngừng đập. Trong điều kiện bình thường, hàm lượng Kali và sắt trong hồng cầu sẽ bằng nhau. Nhưng trong hồng cầu của Kay, hàm lượng sắt thấp hơn rất nhiều so với hàm lượng Kali. Vì thế, chuyên gia kết luận ai đó đã tiêm Kali vào mạch máu của Kay. Kết luận đó là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy Kay không chết vì đột tử, mà là nạn nhân của một vụ mưu sát.

Nghi phạm sa lưới vì công nghệ mới

Dù có bằng chứng mới, cơ quan công tố chưa thể đưa William Sybers ra tòa, vì thẩm phán yêu cầu họ tính toán cụ thể lượng Kali tự nhiên trong hồng cầu với Kali mà cơ thể tiếp nhận từ bên ngoài để có thể kết tội nghi phạm. Đây là việc rất khó. Để có bằng chứng đáng thuyết phục, cơ quan công tố cần tìm ra một hoặc vài chất độc trong cơ thể Kay, hoặc một chất có tác dụng tăng hàm lượng Kali trong máu.

Vài năm trôi qua và cảnh sát buộc phải tạm gác lại hồ sơ vụ án do không thể tạo bước đột phá. Khoảng thời gian ấy đủ dài để William kết hôn với cô gái mà ông ta ngoại tình vào năm 1994, rồi nghỉ hưu vào năm 1997. Cũng trong năm 1997, Trung tâm Dịch vụ Y khoa Quốc gia Mỹ đã phát minh phương pháp phân tích mới, cho phép phát hiện chất độc trong máu, mô của người một cách nhanh chóng, chính xác hơn mọi biện pháp trước đây. Các công tố viên bang Florida lập tức yêu cầu trung tâm xét nghiệm các mẫu mô, máu của Kay.

May mắn thay, cơ quan công tố lưu giữ những mẫu mô, máu trong phòng đông lạnh nên chúng hầu như còn nguyên vẹn. Kết quả xét nghiệm cho thấy máu của Kay chứa succinylcholine, một chất gây liệt cơ mà các bác sĩ phẫu thuật thường sử dụng để ngăn những cử động vô thức của bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật. Ngay sau khi succinylcholine xâm nhập vào cơ thể, con người sẽ ngừng thở.

William có điều kiện tiếp cận succinylcholine vì ông ta là bác sĩ. Đương nhiên, ông ta biết cách sử dụng nó để khiến Kay tử vong. Cơ quan công tố tin rằng, William ngoại tình với nữ kỹ thuật viên trẻ nên không còn muốn sống cùng Kay. Song ông ta không muốn ly hôn vì sẽ phải chia tài sản với Kay. Vào thời điểm ấy, giá trị tài sản của William và Kay lên tới 6 triệu USD. Do đó, giết vợ là phương án hợp lý nhất với vị chuyên gia pháp y danh tiếng.

Giả thuyết của cơ quan công tố là vào buổi tối 29/5/1991 hoặc rạng sáng 30/5/1991, khi Kay đang ngủ, William tiêm succinylcholine vào cánh tay phải của vợ khiến bà ngừng thở rồi tử vong ngay lập tức. Vào sáng 30/5/1991, ông ta vẫn đi làm rồi diễn màn kịch mà ông ta đã chuẩn bị từ trước.

Quá trình xét xử William Sybers kết thúc vào tháng 1/2000. Bồi thẩm đoàn kết luận bị cáo phạm tội Giết người cấp độ một, và thẩm phán tuyên ông ta án chung thân. Năm 2014, William chết vì ung thư ở tuổi 81.

Theo Dân Trí

Xem link gốc Ẩn link gốc https://dantri.com.vn/phap-luat/muu-tinh-tham-hiem-cua-ga-bac-si-giet-vo-de-cuoi-nhan-tinh-20230517010331545.htm

giết vợ


Gửi bài tâm sự

File đính kèm
Hình ảnh
Words
  • Bạn đọc gửi câu chuyện thật của bản thân hoặc người mình biết nếu được cho phép, không sáng tác hoặc lấy từ nguồn khác và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về bản quyền của mình.
  • Nội dung về các vấn đề gia đình: vợ chồng, con cái, mẹ chồng-nàng dâu... TTOL bảo mật thông tin, biên tập nội dung nếu cần.
  • Bạn được: độc giả hoặc chuyên gia lắng nghe, tư vấn, tháo gỡ.
  • Mục này không có nhuận bút.