Gần đây, dư luận xôn xao vềchuyện “ba ông cá thần” tại giếng Ngọc ở Bắc Ninh. Trong khi người dân tứ xứhiếu kỳ về chuyện ba ông cá thì với nhiều người dân ở đây, giếng Ngọc mới thựcsự là một huyền thoại.

Nằm trong quần thể đền Cùng,giếng Ngọc được xem như một vật báu trời ban dành riêng cho người dân vùng làngDiềm (Bắc Ninh). Không ai biết giếng Ngọc có tự bao giờ hay đã bao nhiêu tuổi,chỉ biết rằng bao lớp thế hệ làng Diềm sinh ra đều được nước giếng Ngọc dưỡngnuôi khôn lớn.

Giếng nước ngọt nhất Kinh Bắc

Theo sách “Văn hiến Kinh Bắc”,làng Diềm (thuộc xã Hòa Long, TP. Bắc Ninh) vốn là một làng Việt cổ nằm dướichân hai dãy núi Kim Lĩnh (còn gọi là núi Thiếp) và Kim Sơn. Đây là nơi có đềnthờ bà thủy tổ khai sinh ra môn nghệ thuật dân ca quan họ Bắc Ninh. Làng Diềmxưa nay không chỉ nổi tiếng xứ Kinh Bắc về hát quan họ cổ mà còn là nơi chứađựng rất nhiều di tích, thắng cảnh hùng vĩ, lạ kỳ, có lịch sử lâu đời.

Một trong những di tích đó là cụmdi tích đền Cùng, giếng Ngọc nằm ở thôn Viêm Xá. Đền Cùng vốn là một ngôi đền cótừ thời nhà Lý thờ “nhị nhân thần nữ” là hai nàng công chúa Tiên Dong (hoặc TiênDung) và Thủy Tiên, con của vua Lý Thánh Tông. Tương truyền, vào một đêm trờitrong xanh gió mát, hoàng hậu đang nằm ngủ chợt thấy có ánh hào quang rọi sángkhắp nhà. Từ trong ánh hào quang ấy, có hai con cá chép vàng hiện ra xin đượcđầu thai làm người. Chẳng bao lâu sau đó, hoàng hậu có thai rồi sinh hạ được haiquý nữ, đặt tên là Ngọc Dong và Thủy Tiên. Hai nàng càng lớn càng xinh đẹp, lộnglẫy. Khi tới tuổi xuân sắc hai nàng không những nổi tiếng trong đám hồng quần vềyểu điệu thục nữ mà còn vang truyền thiên hạ về tài trí của bậc quân tử.

Bí ẩn giếng Ngọc nghìn năm tuổi

Khách phương xa mỗi lần đến đền Cùng đều rất ngạc nhiên trước vẻ kỳ bí của giếng Ngọc.

Bấy giờ ở vùng núi Kim Lĩnh củalàng Diềm còn hoang sơ, có nhiều thú dữ. Hai nàng liền xin phép vua cha cho vềđây để diệt trừ thú dữ, giúp dân làng tránh tai họa. Sau này, khi vua cha tậndụng một hang động lớn dưới chân dãy núi Kim Lĩnh để làm “thủ khố ngân sơn” hainàng liền tự nguyện xin được trông nom, quản lí kho quân lương này. Rồi nhằmngày tiết Thanh minh (3/3 âm lịch) một năm nọ, hai nàng cùng hướng về kinh thànhlạy ba lạy rồi khấn “chúng con xin mãi mãi ở lại chốn này để phù giúp dânlành” rồi cùng hóa. Dân làng tri ân công ơn hai nàng liền lập đền thờ ở ngaychính nền kho “thủ khố ngân sơn” dưới chân núi Kim Lĩnh và đặt tên đền là đềnCùng.

Theo một số ngọc phả hiếm hoi cònsót lại trong làng trước đây thì khi dân làng lập đền thờ ở đây, trước đền đã cógiếng Ngọc. Giếng lúc đó chưa rộng lớn và sâu như bây giờ nhưng nước ở đó đã rấttrong, ngọt và mát nên dân làng Diềm vẫn thường hay dùng nước ở đây ăn uống.Trong dân gian còn truyền tụng rất nhiều huyền thoại về lai lịch, nguồn gốc củagiếng Ngọc – chiếc giếng được dân làng Diềm tôn là “bầu sữa mẹ vĩ đại” của cảlàng bao đời nay. Nhiều người cho rằng giếng Ngọc chính là hiện thân của hainàng công chúa Ngọc Dong và Thủy Tiên.

Tuy nhiên, đại đa số các cụ caoniên trong làng Diềm cho rằng đây không phải là một chứng cứ thuyết phục. Theocụ Nguyễn Văn Lợi (còn gọi cụ Việt Linh) – Đại tá công an về hưu thì ông bà củacụ có truyền lại rằng: trước kia, dưới chân hai dãy núi Kim Lĩnh và Kim Sơn cómột rừng lim cổ rất rậm rạp. Rừng lim cổ này chính là nơi trú ngụ của rất nhiềuloại cầm thú, chim muông, trong đó có loài quạ rừng. Loài quạ rừng này vốn làloài chim ăn thịt nên rất háo nước. Sau những lần chén mồi no say chúng thườngđi khắp nơi trong rừng lim để tìm nước uống. Một ngày chúng phát hiện ra mộtvũng nước sâu, có mạch nước ngầm chảy ra từ lòng núi Kim Lĩnh.

Càng ngày các loại chim càng kéonhau về đây uống nước, rỉa cánh nên hố nước mỗi lúc một rộng ra. Khi rừng lim bịđốn hạ gần hết thì dân làng mới phát hiện ra vũng nước này. Thấy nước trong, mátngười dân trong làng lấy về dùng thì quả là nước ngọt và lành hơn so với nhữnggiếng họ tự đào. Lâu ngày, người làng Diềm từ già chí trẻ đều dùng nước này đểuống và xem đó như là một nguồn nước thiên tạo. Sau này, họ mở rộng vũng nướcnày thành giếng và đặt tên là giếng Ngọc.

Bí ẩn giếng Ngọc nghìn năm tuổi

Bao đời nay người làng Diềm vẫn dùng nước giếng Ngọc để ăn uống.

Đến năm 1940 vẫn còn lạimột cây lim cổ thụ duy nhất, rất to lớn thuộc họ mần tước, mọc ngay phíasau đền Cùng là dấu tích còn lại của rừng lim xưa. Bóng của cây lim nàytỏa khắp cả khu đền Cùng giếng Ngọc. Nhưng đến năm 1945 do nhu cầu làmđường nên người ta đã đốn hạ cây lim này.

Gần chết vẫn đòi uống nướcgiếng

Cụ Nguyễn Văn Lợi còn cho hay, từhồi còn là cậu bé 5 tuổi, cụ đã nhìn thấy giếng Ngọc trước đền Cùng. Ngay cả bàmẹ vợ của cụ Lợi, 103 tuổi (mới mất) cũng khẳng định cụ thấy giếng Ngọc từ khicòn rất bé. Chính cụ Lợi cũng đã từng dày công mày mò, tìm kiếm các sử liệu đểlần ra lai lịch và niên đại của giếng Ngọc nhưng vẫn không thể nào xác địnhđược. Giếng Ngọc hiện nay vẫn nằm nguyên ở vị trí cũ, nghĩa là ngay sát đền Cùngnhưng quy mô của giếng thì đã được mở rộng thành hình bán nguyệt, với diện tíchtới 10m2. Từ mặt đất xuống lòng giếng có độ sâu tới 8m.

Cũng theo cụ Nguyễn Ngọc Bích –Trưởng ban quản lý khu di tích đền Cùng giếng Ngọc thì xưa kia xung quanh giếngNgọc được xây một dãy lan can bằng gốm sứ, song mấy trận lụt làm vỡ, nên đượcxây lại bằng gạch cho chắc chắn. Trong lòng giếng được kiến trúc hết sức đặcbiệt với nhiều loại bậc đá, gỗ, gạch khác nhau. Từ mặt giếng xuống sát mép nướccó 4 bậc đá và 3 bậc gạch được xây dựng từ hàng trăm năm qua. Những bậc thangcuối cùng tiếp giáp với mặt nước được làm bằng gỗ lim. Mỗi bậc thang gỗ lim cóchiều dài 6m.

Trải qua hàng trăm năm ngâm mìnhdưới nước song vẫn không có bậc nào bị mục ải hay thối rữa. Toàn bộ lòng giếngđược là đá ong tự nhiên vây quanh. Giữa đáy giếng gồ lên một ụ đá như một photượng nhỏ điểm trang cho lòng giếng thêm vẻ kỳ bí, linh thiêng. Gần đáy giếngNgọc có một cái hang nhỏ, hướng vào phía trong đền Cùng, sâu khoảng 2m, là nơitrú ngụ của ba ông “cá thần” mỗi lúc có lụt lội. “Một điều hiếm thấy là dùhạn hán giếng vẫn không bao giờ cạn nước, dù mưa lụt nước giếng cũng không tràn”– cụ Bích cho biết.

Bí ẩn giếng Ngọc nghìn năm tuổi

Giếng trong đến độ đứng trên mặt đất vẫn nhìn thấy đáy giếng.

Nhiều cụ cao niên của làng Diềmkhẳng định rằng, từ xa xưa, dân làng Viêm Xá có được giọng hát “vang rền nềnnảy” với độ tinh xảo bậc nhất xứ Kinh Bắc chính là nhờ được dung dưỡng từ nguồnnước trong lành, tươi mát của giếng Ngọc. Người dân làng Diềm mê nước giếng Ngọcđến nỗi họ không chịu uống bất kỳ loại nước nào khác mặc dù có nước máy hẳn hòi.Thậm chí trước đây, người ta còn múc nước ở đây về uống mà không đun vì sợ đunsẽ mất đi vị ngọt của nước.

“Bà mẹ vợ tôi sống đến 103tuổi, chị dâu tôi đến 86 tuổi mới mất, suốt cả đời chỉ uống mỗi nước giếng Ngọc.Cho đến khi sắp mất rồi vẫn nhất định đòi con cháu gánh nước giếng về đổ vàochum để uống và tắm rửa mặc dù trong nhà có nước máy hẳn hoi. Không chỉ có mẹ vợvà chị dâu tôi mới thế mà đa số các cụ làng Diềm cũng đều thế hết” – cụ Lợicho hay.

Do nước giếng Ngọc được hìnhthành từ những mạch nước ngầm chảy ra từ núi đá Kim Lĩnh lại được lắng qua hàngchục lớp đá ong tự nhiên nên nước rất trong. Con gái làng Diềm dùng nước giếngNgọc để gội đầu thì thấy tóc rất tơi, mềm mượt... chẳng khác gì một loại dầu gộiđầu thiên nhiên. Còn đàn ông mỗi khi dùng nước giếng Ngọc để pha trà thì bao giờnước trà cũng thơm, xanh, ngọt hơn hẳn khi pha với các thứ nước khác. Bởi thếngười dân làng Diềm cho đến nay vẫn hay truyền miệng nhau câu ca: “Nước giếngNgọc, trà Tân Cương/ Như chàng Kim Trọng đẹp duyên Thúy Kiều”.

Lạ kỳ trước sự khác biệt của nướcgiếng Ngọc nên có thời người ta còn đồn nhau rằng nước giếng Ngọc là thuốc tiêncó thể chữa bách bệnh. Tuy nhiên, cụ Lợi cho rằng: “Người ta cho nước giếngNgọc là nước thần kỳ, nước thiên tạo nên quan niệm uống nước giếng Ngọc có thểchữa được bách bệnh là chuyện khó tin. Nhưng một điều có thể tin đó là ngườilàng Diềm sống rất thọ cũng có thể chính nhờ uống nước từ giếng Ngọc”.

Còn nữa...

Theo Hà Tùng Long
Bí ẩn giếng Ngọc nghìn năm tuổi