Cùng nhìn lại sự hoành hành của bệnh sởi trên thế giới và sự ra đời của những liều vaccine đầu tiên…
Cùng nhìn lại sự hoành hành của bệnh sởi trên thế giới và sự ra đời của những liều vaccine đầu tiên…
Hiện nay, tình trạng bệnh sởi đang diễn biến theo chiều hướng khá phức tạp. Theo các chuyên gia y tế, đây là căn bệnh truyền nhiễm có tốc độ lây lan rất nhanh và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm não.
Cùng
nhìn lại lịch sử của căn bệnh đáng sợ này cũng như sự ra đời của loại
vaccine chống sởi để có cái nhìn thận trọng và chính xác về nó.
Sởi là một trong những căn bệnh cổ xưa nhất mà con người từng mắc phải.
Theo nhiều tài liệu, sởi hiện diện trong quần thể người từ cách đây
5.000 năm. Những mô tả đầu tiên về căn bệnh này thuộc về một thầy thuốc
Ba Tư tên Muhammad ibn Zakariya al-Razi (còn gọi là Rhazes) (860-932).
Tuy nhiên, khi đó Rhazes lại cho rằng, sởi chỉ là một biến thể của bệnh
đậu mùa mà thôi.
Chân dung thầy thuốc Rhazes...
...và cuốn sách với những ghi chép của ông về bệnh sởi.
Điểm khác biệt của sởi so với các bệnh như dịch hạch, sốt chấy rận… là việc nó không có ổ bệnh tự nhiên. Điều này có nghĩa, sởi chỉ gây bệnh trên người chứ không lây nhiễm trên động vật.
Sởi có tên tiếng Anh là “measles” vốn có gốc từ “masern” trong ngôn ngữ Đức, nghĩa là “đốm”.
Trước
thời của Rhazes, người ta coi những ban đỏ khi lên sởi vốn là do... máu
kinh nguyệt của người mẹ nhiễm vào đứa trẻ khi còn trong bụng mẹ.
Vì thế, sởi lại được coi là cách duy nhất để gột rửa tự nhiên thứ máu
độc hại ấy. Đó cũng là lý do mà suốt một thời gian dài ở phương Tây,
người ta cố ý cho các em bé sơ sinh mắc sởi.
Trong
suốt hơn 600 năm sau thời của Rhazes, gần như những ghi chép về sởi
không có nhiều. Chỉ tới nửa sau của thế kỉ XVII, khi dịch sởi xuất hiện ở
Boston năm 1657, người ta mới lại chú ý tới nó.
Đúng
100 năm sau, bằng việc thí nghiệm lấy máu của một đứa trẻ mắc sởi
truyền sang người khác, bác sĩ người Scotland - Francis Home đã chứng
minh được rằng, có sự tồn tại một tác nhân trong máu gây nên bệnh sởi ở
người.
Tới
năm 1846, bác sĩ Peter Ludvig Panum (người Đan Mạch) khi được chính phủ
phái tới quần đảo Faroe nghiên cứu căn bệnh này đã đưa ra 4 dấu hiệu
đặc trưng của người bệnh mắc sởi.
4
dấu hiệu của bệnh sởi là: ban đỏ nổi sau 12-14 ngày tiếp xúc với mầm
bệnh; bệnh lây qua ho, hắt hơi; khả năng lây bệnh cao nhất là 3-4 ngày
trước khi nổi ban; và người đã từng mắc sởi sẽ miễn dịch với bệnh này
suốt đời.
Vào
thời bấy giờ, phần lớn trong số đó qua đời vì những biến chứng đáng sợ
của sởi như viêm phổi, nhiễm trùng tai, tiêu chảy hay viêm loét giác
mạc.
Theo thống kê hiện nay, có khoảng 30% trẻ mắc bệnh sởi gặp một hay nhiều biến chứng.
Năm 1878, những bộ lạc người Mỹ bản địa
cũng trở thành nạn nhân của dịch sởi, điển hình là tộc người Yuma sống
dọc bên bờ sông Gila phía Nam Arizona. Không lâu sau đó, chỉ riêng năm
1916, dịch sởi bùng phát mạnh trên toàn nước Mỹ và giết chết 12.000
người trong đó có tới 75% là trẻ em dưới 5 tuổi.
Hơn 35 năm sau đó, dịch sởi đã tấn công tới
tận đảo Greenland, Đan Mạch. Dịch bệnh khủng khiếp tới nỗi 99,9% người
dân ở đây lên sởi. Trong số 4.262 cư dân, chỉ có duy nhất 5 người trên
đảo thoát khỏi căn bệnh này.
Tuy
nhiên, cũng chính trong đại dịch này, người ta đã phát minh ra một
phương pháp chữa trị sởi tương đối hiệu quả. Đó là tiêm gamma globulin
(một loại protein giàu kháng thể) vào người bệnh, giúp làm giảm khả năng
tử vong vì sởi.
Năm 1954, hai nhà khoa học là Franklin Enders và
Thomas Peebles đã phân lập được virus sởi từ cậu bé 13 tuổi - David
Edmonston. Từ đó tới nay, có khoảng 21 chủng virus sởi đã được phát hiện
trên toàn cầu, phổ biến nhất là virus thuộc chi Morbillivirus. Trong
điều kiện nhiệt độ phòng, virus sởi sống được tới 34 giờ đồng hồ.
Hình ảnh 3D của virus sởi...
...và vòng đời của chúng trong cơ thể người.
Ngày
15/10/1958, Sam Katz - một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm từng làm
việc cùng Thomas Peebles đã cho thử nghiệm phiên bản vaccine sởi đầu
tiên, vốn dựa trên mẫu virus được phân lập 4 năm về trước.
Đối
tượng được tiêm vaccine thử nghiệm là 11 trẻ em khuyết tật ở Boston.
Tuy nhiên, thử nghiệm không hoàn toàn thành công khi 9 em sau khi tiêm
vẫn có các dấu hiệu và triệu chứng của sởi nhẹ. Điều này chứng tỏ virus
dùng trong kháng sinh đã yếu hơn rất nhiều.
Loại vaccine đầu tiên được sử dụng vẫn khiến các bệnh nhân có triệu chứng bị sởi nhẹ.
Năm 1963, vaccine sởi đầu tiên chính thức được cấp phép sử dụng tại Mỹ có tên là Edmonston B.Tuy
nhiên, vaccine này gây ra khá nhiều phản ứng phụ như phát ban, sốt cao
nên sau này, nhiều loại vaccine mới đã được cải tiến ra đời như Schwarz
và Attenuvax…
Hiện nay, loại vaccine thông dụng nhất ra đời từ năm 2005 có tên MMRV. Đây là vaccine thích hợp cho nhiều loại bệnh cùng lúc bao gồm sởi - quai bị - rubella -thủy đậu.
Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus sởi
gây nên, lưu hành phổ biến ở trẻ em, bệnh lây từ người sang người chủ
yếu qua đường hô hấp.
Bệnh xuất hiện quanh năm
nhưng thường xảy ra vào mùa đông - xuân, đến nay sởi vẫn là bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm gây dịch và là một trong những nguyên nhân tử vong hàng
đầu ở trẻ dưới 5 tuổi.
Ban
sởi có màu đỏ, dạng sần nổi trên bề mặt da. Ban thường xuất hiện ở sau
tai, sau đó lan ra mặt, ngực, bụng và toàn thân. Ban sẽ tự biến mất theo
đúng thứ tự đã mọc và để lại vết thâm tại vùng đã mọc.
Khi phát hiện người bị sởi, cần cách ly và chăm sóc bệnh nhân cẩn thận, uống nhiều nước và ăn các thực phẩm có chứa vitamin A.
Nên
đưa người bệnh tới cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời. Cách phòng
sởi tốt nhất là tiêm đầy đủ vaccine phòng sởi theo quy định của chương
trình tiêm chủng mở rộng quốc gia.