
Tôi và chồng quen nhau từ thời còn khó khăn. Anh là người có năng lực, đi lên từ vị trí nhân viên rồi trở thành trưởng phòng chỉ sau vài năm. Khi ấy, ai cũng nói tôi may mắn vì lấy được người vừa giỏi giang vừa có chí tiến thủ. Tôi cũng luôn nghĩ như vậy.
Nhưng mọi thứ thay đổi khi công ty anh cắt giảm nhân sự. Anh bị cho nghỉ việc sau nhiều năm gắn bó. Ngày nhận quyết định, anh về nhà rất trầm lặng. Tôi vẫn nghĩ đó chỉ là cú sốc tạm thời, rồi anh sẽ sớm ổn định lại. Nhưng không, từ đó anh thay đổi hoàn toàn.
Anh trở nên ít nói hơn, khép mình và có phần xa cách. Điều khiến tôi buồn nhất là anh không còn muốn dùng tiền của tôi. Trước đây, tôi đi học nghề thẩm mỹ cũng chính anh là người bỏ vốn, động viên tôi theo đuổi.

Nhờ vậy mà giờ tôi có một tiệm riêng, thuê thêm nhân viên và thu nhập ổn định khoảng 50–60 triệu mỗi tháng. Tôi luôn biết ơn anh vì đã là người đặt nền móng cho tôi có ngày hôm nay.
Nhưng sau khi thất nghiệp, anh không còn thoải mái với điều đó nữa. Anh nói muốn tự lập lại từ đầu, không muốn trở thành gánh nặng cho vợ.
Anh đi chạy taxi, tự kiếm từng đồng chi tiêu cho bản thân, tuyệt đối không động vào tiền chung hay tiền của tôi. Tôi hiểu đó là lòng tự trọng của anh, nhưng cũng thấy khoảng cách giữa hai vợ chồng ngày càng lớn.
Gần đây, anh nói muốn thuê một phòng trọ ở riêng một thời gian. Anh bảo cần không gian để suy nghĩ, để “lấy lại chính mình”. Tôi nghe mà lòng như thắt lại. Tôi không muốn ly thân, cũng không muốn sống xa anh, nhưng càng giữ thì anh càng thu mình lại.

Tôi đã tâm sự với vài người bạn. Mọi người đều khuyên tôi nên đưa anh đi khám tâm lý ngay, vì những biểu hiện của anh có thể là dấu hiệu của rối loạn lo âu hoặc trầm cảm sau sang chấn nghề nghiệp. Có người còn nói, với những người từng thành đạt, cú sốc mất việc đôi khi còn nặng nề hơn người khác rất nhiều.
Tôi không biết nên bắt đầu từ đâu. Một bên là tình yêu và sự biết ơn dành cho chồng, một bên là khoảng cách ngày càng lớn mà tôi không thể với tới.
Tôi chỉ mong có cách nào để anh hiểu rằng, thất bại không khiến anh mất đi giá trị, và tôi vẫn luôn ở đây, không phải với tư cách người “được nuôi”, mà là người đồng hành.
Tôi chỉ sợ nếu cứ im lặng và để anh rời xa dần như vậy, chúng tôi sẽ đánh mất nhau lúc nào không hay.

Bệnh trầm cảm: Nguyên nhân và dấu hiệu
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm là nguyên nhân chính gây ra những khuyết tật về sức khỏe tinh thần trên toàn thế giới. Tình trạng này có thể ảnh hưởng đến người lớn, thanh thiếu niên và trẻ em.
Nguyên nhân nào gây nên trầm cảm ở nam giới
Yếu tố kích hoạt là các sự kiện hoặc hoàn cảnh về tình cảm, tâm lý hoặc thể chất có thể khiến các triệu chứng trầm cảm xuất hiện hoặc tái phát. Đây là một số tác nhân phổ biến nhất:
- Trải qua các sự kiện nhất định trong cuộc sống như mất mát, các vấn đề về công việc, những thay đổi trong các mối quan hệ, các vấn đề tài chính và các mối quan tâm về y tế;
- Trải qua căng thẳng cấp tính;
- Thiếu các phương pháp điều trị trầm cảm phù hợp;
- Có người thân bị trầm cảm;
- Sử dụng một số loại thuốc theo toa, chẳng hạn như corticosteroid, một số thuốc chẹn beta và interferon;
- Sử dụng thuốc kích thích, chẳng hạn như rượu hoặc amphetamine;
- Bị chấn thương đầu;
- Đã từng bị trầm cảm nặng trước đó;
- Mắc bệnh mãn tính, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) hoặc bệnh tim mạch;
- Sống với nỗi đau hay sự dằn vặt nội tâm kéo dài.
Dấu hiệu và các giai đoạn của trầm cảm
Giai đoạn 1:
- Thường xuyên cảm thấy buồn chán không rõ lý do.
- Bản thân không muốn làm gì.
- Cảm thấy cạn kiệt hết năng lượng.
- Bỏ hết những đam mê, sở thích.
- Bản thân không tự nhận thức được là mình có các triệu chứng của trầm cảm.
- Dần tách biệt với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội và thế giới xung quanh.
- Muốn xa lánh mọi thứ và thích ở một mình.
- Thay đổi thói quen ăn uống, ngủ nghỉ: Ăn nhiều hơn hoặc ít hơn, không cảm thấy ngon miệng; ngủ không ngon giấc, khó ngủ, mất ngủ hoặc ngủ li bì nhưng ngủ dậy vẫn mệt.
Giai đoạn 2:
- Cảm thấy sợ hãi, uể oải, thiếu sức sống.
- Muốn buông xuôi mọi thứ.
- Không muốn suy nghĩ hay làm việc.
- Có nhiều nỗi sợ hãi, ám ảnh: sợ người lạ, sợ đám đông, đôi khi sợ cả những người thân thiết, sợ bóng đêm, sợ ánh sáng…
- Tâm trạng thất thường, cau có, hay cáu giận vô cớ.
- Khó ngủ, mất ngủ, ngủ không sâu giấc.
- Cảm thấy không ai hiểu và không có ai giúp được mình, không tin tưởng ai.
- Mất niềm tin với người thân, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội xung quanh.
- Không dám đối mặt với hiện tại.
- Xuất hiện ảo tưởng hoặc bắt đầu có những suy nghĩ muốn tự tử.
Giai đoạn 3:
- Tuyệt vọng, mất hết niềm tin vào bản thân, con người, cuộc sống, xã hội.
- Có xu hướng làm hại bản thân.
- Xuất hiện hoang tưởng, cảm thấy không có lối thoát.
- Tiêu cực, cảm thấy vô dụng, mặc cảm, tội lỗi.
- Thường xuyên nghĩ đến cái chết, khoảng 5-7 lần/ tuần trở lên.
- Ngủ li bì hoặc khó ngủ hơn bình thường, mất ngủ kéo dài.
- Cảm giác ám ảnh bởi các vấn đề sức khỏe.

Theo Người đưa tin