
Tự do ngôn luận không đồng nghĩa với quyền phán xét
Ngày 10/10, G.T.S. (23 tuổi, quê Lào Cai) nhảy cầu Lai Vu tự tử, để lại một lá thư. Trên mạng xã hội, tài khoản Y.S., tự nhận là anh trai của T.S., cho biết tháng 4/2026, em gái anh quen S., một nam thanh niên học tại Hà Nội. Sau đó, anh nhận được tin nhắn từ người phụ nữ tự nhận là vợ S., cho biết hai người đã có hai con.
Tháng 8/2026, vợ chồng S. xuống Hà Nội giải quyết mâu thuẫn với G.T.S. Sau đó, vợ S. đăng tải thông tin liên quan đến cô gái lên mạng xã hội. Theo Y.S., nhiều người chưa hiểu rõ sự việc vẫn bình luận, nhắn tin công kích em gái anh, khiến cô suy sụp và có hành động dại dột.
Đây không phải lần đầu tiên một nạn nhân nghĩ quẩn vì không chịu nổi áp lực khi bị cộng đồng mạng 'phán xét', xúc phạm danh dự nhân phẩm. Sự việc xảy ra vào năm 2019, bà Nguyễn Thị Bích T. (SN 1981, trú tỉnh Đồng Nai) gửi đơn kêu cứu tới cơ quan công an về việc liên tục bị một phụ nữ tên Thái Thùy L. (trú TP HCM) nói xấu trên Facebook.
Đáng chú ý, con gái bà T. là cháu T.K.N (SN 2002) cũng bị bà L. lên mạng xã hội nói là "đồ con hoang", "xinh đẹp thì đi làm điếm kiếm tiền" cùng nhiều lời lẽ cay độc khác. Từ đó, N. bị bạn bè xa lánh dẫn đến bị trầm cảm, học hành sa sút. Vì không chịu được áp lực nên N. đã uống thuốc ngủ tự tử nhưng may mắn được gia đình cứu chữa kịp thời.
Những vụ việc nêu trên một lần nữa đặt ra câu hỏi: ai là người phải chịu trách nhiệm cho những hệ lụy, hậu quả phát sinh đằng sau những 'phiên tòa' phán xét chuyện đời tư của người khác trên mạng xã hội?

Từ những vụ việc nêu trên, trao đổi với phóng viên, luật sư Trần Tuấn Anh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) nhấn mạnh, công dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền bày tỏ cảm xúc, chia sẻ câu chuyện của mình nhưng điều đó không đồng nghĩa với quyền công khai mọi thông tin đời tư của người khác, sử dụng hình ảnh, tin nhắn riêng tư hoặc đưa ra những nhận định không có căn cứ pháp luật làm tổn hại danh dự, nhân phẩm của họ.
Pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Vì vậy, việc đăng tải câu chuyện đời tư cần được xem xét trên các khía cạnh như tính xác thực, phạm vi thông tin được công khai, mục đích đăng tải và ảnh hưởng đối với người liên quan.
“Việc chia sẻ lại những tin, bài có nội dung làm nhục người khác có thể bị coi là tiếp tay cho hành vi đó, đồng thời vi phạm quyền riêng tư và xúc phạm danh dự của người bị hại”, luật sư Tuấn Anh phân tích, song ông cho rằng, không phải cứ có lời bình luận tiêu cực hoặc liên quan đến một vụ tranh chấp tình cảm là đương nhiên cấu thành tội phạm.
Cơ quan chức năng phải đánh giá nội dung cụ thể, mức độ xúc phạm, tính chất thông tin, mục đích, lỗi của người thực hiện và các yếu tố cấu thành tội phạm của từng tội danh. Một bài đăng có hàng trăm, hàng nghìn người tham gia bình luận cũng không có nghĩa trách nhiệm pháp lý được chia đều hoặc không ai phải chịu trách nhiệm. Trách nhiệm của từng cá nhân sẽ được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi, bao gồm trách nhiệm hành chính và hình sự.
Trường hợp nhiều người có sự bàn bạc, thống nhất ý chí và cùng thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan chức năng còn phải xem xét vấn đề đồng phạm. Trách nhiệm phải được chứng minh trên cơ sở hành vi cụ thể, không thể quy kết trách nhiệm tập thể một cách máy móc.

Người đăng bài, người bình luận đều có thể bị xử lý
Luật sư Trần Tuấn Anh phân tích thêm, trường hợp người đăng bài không trực tiếp chửi bới, không kêu gọi tấn công nhưng biết hoặc có căn cứ để nhận thức rằng nội dung đăng tải có thể khiến người khác bị bôi nhọ, công kích thì trách nhiệm pháp lý vẫn cần được xem xét trên cả phương diện dân sự và hình sự.
Do đó, khi đưa câu chuyện cá nhân lên mạng xã hội, người đăng cần cân nhắc tính hợp pháp của nguồn thông tin, mục đích đăng tải, phạm vi thông tin được công khai và hậu quả có thể phát sinh. Việc cho rằng mình chỉ kể lại sự việc không đồng nghĩa với việc được miễn trách nhiệm.
Luật sư Tuấn Anh nhấn mạnh, cần phân biệt giữa việc phản biện một hành vi trên cơ sở thông tin có căn cứ với việc công kích cá nhân, sử dụng ngôn từ hạ nhục, miệt thị hoặc phát tán thông tin chưa được kiểm chứng khiến một người bị cô lập, chịu áp lực từ cộng đồng.
Khi tiếp nhận câu chuyện đời tư đang gây tranh cãi, người dùng nên kiểm chứng thông tin, nhìn nhận sự việc từ nhiều phía và tránh vội vàng kết luận khi chưa có đầy đủ dữ kiện. Đặc biệt, không nên chia sẻ thông tin riêng tư, hình ảnh, địa chỉ, số điện thoại hoặc dữ liệu có thể khiến người liên quan tiếp tục bị quấy rối.

Đồng quan điểm, luật sư Nguyễn Thanh Tùng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho rằng, người sử dụng mạng xã hội phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa và phát tán.
Người có hành vi lợi dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin giả mạo, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm người khác; cung cấp thông tin nhằm kích động mâu thuẫn, chia rẽ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự hoặc công khai dữ liệu cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, trừ trường hợp pháp luật cho phép, có thể bị xử phạt hành chính. Trong trường hợp nghiêm trọng, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo các luật sư, hành vi bắt nạt tập thể trên mạng có thể gây hậu quả lớn về mặt xã hội và tâm lý. Một bình luận đơn lẻ có thể bị người viết xem là chuyện nhỏ, nhưng hàng trăm hoặc hàng nghìn bình luận cùng hướng vào một cá nhân có thể tạo ra sức ép rất lớn.
Người bị xâm phạm cần làm gì?
Về phía người bị xâm phạm, luật sư Trần Tuấn Anh khuyến nghị trước tiên cần thu thập, bảo toàn chứng cứ, tránh phản ứng bằng những lời lẽ xúc phạm hoặc hành vi khiến mâu thuẫn trở nên nghiêm trọng hơn.
Các tài liệu cần lưu giữ gồm ảnh chụp màn hình bài viết và bình luận; đường dẫn bài đăng; tên tài khoản, đường dẫn trang cá nhân và thông tin nhận diện tài khoản; thời gian đăng tải; nội dung tin nhắn, thư điện tử có liên quan; video ghi lại nội dung trên màn hình; cùng các tài liệu thể hiện việc thông tin bị phát tán, hậu quả thực tế và thiệt hại phát sinh.
Khi có điều kiện, người bị xâm phạm nên lưu lại bản ghi nhận đầy đủ nội dung, tránh chỉ chụp một vài câu riêng lẻ khiến sự việc bị hiểu sai ngữ cảnh.
Đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, người bị hại có thể gửi đơn tố giác kèm chứng cứ đến cơ quan công an có thẩm quyền để được tiếp nhận, xác minh.

Theo Tiền Phong