VietNamNet giới thiệu bài viết của PGS.TS Hoàng Chí Hiếu - Phó trưởng khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.

W-z6939043973390_ebc94fe9b98cf75928f20b58d2a0905b.jpg
Với bệ phóng lịch sử vững chắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc ta sẽ vững bước tiến vào kỷ nguyên mới. Ảnh: Thế Bằng

Hơn 90 năm kể từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong đó tròn 8 thập kỷ là đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân lập nên nhiều thành tựu vĩ đại, những kỳ tích không chỉ của lịch sử dân tộc mà còn ghi dấu ấn đậm nét trong tiến trình phát triển của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng Cộng sản đầu tiên giành được độc quyền lãnh đạo cách mạng ngay sau khi thành lập.

Kể từ khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời (24/2/1848) đến thập niên thứ ba của thế kỷ XX, các chính đảng vô sản đã được thành lập ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu và châu Mỹ. Tuy nhiên, trải qua một chặng đường dài, đến tận năm 1930 vẫn chưa có Đảng Cộng sản nào độc quyền lãnh đạo cách mạng ở nước đó. Riêng đối với nước Nga, mặc dù được thành lập năm 1898 (và sau đó chia thành 2 phái: Bolshevik và Menshevik) nhưng mãi đến đầu năm 1917, Đảng Xã hội Dân chủ Công nhân Nga (sau là Đảng Cộng sản Nga) vẫn chưa phải là chính đảng mạnh nhất. Do đó, khi cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1917 nổ ra, chính quyền đã rơi vào tay Chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản. Phải đến mùa Thu năm 1917, Đảng mới tỏ rõ sự vượt trội hơn so với Chính phủ lâm thời. Lúc đó, Cách mạng tháng Mười mới nổ ra và thành công. Nghĩa là, phải mất gần 2 thập kỷ, Đảng Xã hội Dân chủ Công nhân Nga mới giành được quyền lãnh đạo cách mạng.

Ở châu Á, tình hình cũng diễn ra tương tự. Đảng Cộng sản Indonesia ra đời năm 1920. Qua năm sau, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập và nhanh chóng trở thành Đảng Cộng sản lớn nhất ở châu Á. Tuy nhiên, trong hơn hai thập niên đầu, Đảng Cộng sản Trung Quốc phải thực hiện “Quốc - Cộng hợp tác”, nếu không muốn nói là có phần “lép vế” hơn so với Quốc dân đảng đã ra đời trước đó. Đảng Cộng sản Indonesia dù là Đảng Cộng sản ra đời sớm nhất ở châu Á nhưng vẫn không giành được quyền lãnh đạo cách mạng. Tương tự là Đảng Cộng sản ở các nước như Nhật Bản, Ấn Độ… cũng không có nhiều ảnh hưởng trong quần chúng.

Ở trong nước, dù không phải là chính đảng thành lập sớm (như Đảng Lập hiến thành lập năm 1923, Việt Nam Quốc dân đảng thành lập năm 1927) nhưng với kết quả tuyên truyền, vận động, tập hợp lực lượng từ trước nên ngay khi ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn gắn mục tiêu “độc lập dân tộc” với “người cày có ruộng”, đi từ “tư sản dân quyền cách mạng” và “thổ địa cách mạng” tiến lên chủ nghĩa cộng sản, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được dân tộc Việt Nam sớm dứt khoát lựa chọn làm người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Cùng với sự tan rã của Việt Nam Quốc dân đảng sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2/1930), từ thời điểm này, chỉ duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam nắm được quyền lãnh đạo cách mạng. Đây chính là thành tựu đầu tiên, có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho những thắng lợi về sau của cách mạng Việt Nam.

Hai là, chỉ sau 15 năm thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền thành công, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Đây là thắng lợi đầu tiên của một đảng vô sản ở nước thuộc địa. Nhìn rộng ra, phải đến năm 1949, khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, nghĩa là tới 28 năm sau khi thành lập, Đảng Cộng sản Trung Quốc mới giành được chính quyền thắng lợi. Còn ở Indonesia vào tháng 8/1945, cùng với Việt Nam, quốc gia này giành được độc lập nhưng dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản dân tộc và từ năm 1965, sau cuộc đảo chính lật đổ tổng thống Sukarno thì Đảng Cộng sản không còn tồn tại.

Thành tựu này càng vĩ đại hơn nếu chúng ta thấy rằng, rất nhiều đảng vô sản ở Âu - Mỹ dù ra đời trước Đảng Cộng sản Việt Nam rất lâu nhưng hoặc chưa bao giờ giành được chính quyền hoặc đã giành được chính quyền nhưng cuối cùng không giữ được thành quả đó, kể cả các đảng Cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu.

Ba là, thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc, đánh bại những đế quốc hàng đầu.

Trong đó, chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” không chỉ là thắng lợi đầu tiên của một dân tộc thuộc địa vừa mới giành được độc lập trước một đế quốc có lịch sử đi xâm lược thuộc địa hàng thế kỷ với sự yểm trợ lớn về mọi mặt của siêu cường Mỹ mà còn là nguồn cảm hứng khơi dậy trào lưu giải phóng dân tộc ở các nước Á - Phi - Mỹ Latin. Đó là dòng chảy chủ đạo của lịch sử loài người nửa sau thế kỷ XX, làm tan rã hệ thống thuộc địa kiểu cũ, góp phần vẽ lại bản đồ chính trị thế giới cũng như thúc đẩy sự ra đời của một “thế giới mới” trong bối cảnh đối đầu ngày càng căng thẳng giữa “hai cực” do Xô - Mỹ đứng đầu.

Đại thắng mùa Xuân 1975, một chiến công mang tầm vóc thời đại của một dân tộc nhỏ bé trước siêu cường đứng đầu thế giới tư bản chủ nghĩa, đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, mở ra một kỷ nguyên thế giới “sau Việt Nam”. Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn thành được sứ mệnh dẫn dắt công cuộc giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, tạo tiền đề đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

W-z6939054005064_b5f25328a55297bdbc980aef04c4ba6c.jpg
Nửa thế kỷ sau ngày thống nhất đất nước, đặc biệt là gần 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, đất nước ta “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”

Bốn là, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng Cộng sản duy nhất cùng lúc lãnh đạo thực hiện thành công hai chiến lược cách mạng ở hai nửa đất nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau.

Sau Hiệp định Genève (tháng 7/1954), nước Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền tại vĩ tuyến 17, với hai chế độ chính trị - xã hội đối nghịch. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tức là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; miền Nam còn nằm dưới sự quản lý của Quân đội liên hiệp Pháp, sau là Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Thực tế đó đặt ra bài toán cực kỳ hóc búa đối với Đảng: Việc lãnh đạo cách mạng sẽ được thực hiện như thế nào?

Một đảng tiến hành đồng thời lãnh đạo thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ; ta lại phải đương đầu với kẻ thù mới là siêu cường đứng đầu phe tư bản chủ nghĩa đang triển khai chủ nghĩa thực dân kiểu mới, giấu mặt trá hình mà một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức được bản chất của nó. Vấn đề đặt ra đối với cách mạng Việt Nam sau năm 1954, đó là đất nước bị chia cắt thành hai miền, vậy miền Bắc có nên chờ đến khi miền Nam giải phóng xong rồi cả nước cùng chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa hay là có thể chuyển lên trước? Còn ở miền Nam có nên thực hiện “trường kỳ mai phục” để chờ thời cơ hay phải tiến hành ngay cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, tiến lên giải phóng hoàn toàn? Làm thế nào để thống nhất đất nước khi vừa phải đẩy mạnh được cách mạng miền Nam, bảo vệ củng cố được căn cứ địa miền Bắc và giữ gìn hòa bình thế giới?

Nhìn vào lịch sử, Đảng Cộng sản và công nhân cầm quyền ở Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc… chỉ thực hiện từng bước nhiệm vụ cách mạng là đánh đổ giai cấp thống trị cũ hoặc giải phóng dân tộc rồi mới tiến lên xây dựng chế độ mới chủ nghĩa xã hội. 

Không có tiền lệ lịch sử để rút kinh nghiệm nhưng bằng nhãn quan và trí tuệ tuyệt vời, Đảng đã tìm ra đáp án cho tình huống phức tạp đó: đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng khác nhau ở miền - cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc không những thể hiện được sự ưu việt của chế độ mới mà còn giúp miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc của cách mạng cả nước, có vai trò quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đại thắng mùa Xuân 1975 chính là sự kết tinh thắng lợi của đường lối cách mạng sáng tạo, độc lập và tự chủ trên đây của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Năm là, nửa thế kỷ sau ngày thống nhất đất nước, đặc biệt là gần 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, đất nước ta “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Vượt qua những khó khăn của thời hậu chiến, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ở hai đầu biên giới và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1986, nhân dân ta bước vào công cuộc Đổi mới.

Trên hành trình đó, với phương châm “Việt Nam muốn là với tất cả các nước”, dân tộc ta đã giữ vững chế độ, từng bước hội nhập quốc tế. Đến nay, Việt Nam luôn là một quốc gia có chính trị - xã hội ổn định, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội. Đây là một trong những điểm sáng và là thế mạnh của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động.

Quy mô nền kinh tế không ngừng tăng nhanh, với vị thế thứ 34 thế giới, Việt Nam đang bước vào ngưỡng cửa của quốc gia có mức thu nhập trung bình. Từ một nước bị bao vây, cấm vận kéo dài, đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 quốc gia, đặc biệt là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và nhiều nước G20… Tất cả đều khẳng định một vị thế mới, ngày càng quan trọng của Việt Nam trong nhiều mối quan hệ quốc tế.

Sáu là, bước vào mùa Thu năm 2025, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tròn 80 tuổi. Đây là nhà nước xã hội chủ nghĩa lâu đời nhất trên thế giới hiện nay.

Nếu tính từ khi Liên bang Xô viết ra đời (1922) thì nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên có lịch sử 69 năm, còn tính từ cuộc cách mạng tháng Mười năm 1917 thì chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước Nga tồn tại được 74 năm. Loạt nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời ở Đông Âu sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến đầu thập niên 1990 đã không còn nữa. Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên được thành lập năm 1948 và Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mãi đến năm 1949 mới ra đời. Nghĩa là so với các quốc gia xã hội chủ nghĩa từng có trong lịch sử và đang tồn tại, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là nhà nước xã hội chủ nghĩa lâu đời nhất. Đi cùng với sự tồn tại của nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng vô sản cầm quyền lâu nhất trên thế giới cho đến hiện nay.

Thực tế lịch sử hơn 95 năm qua kể từ ngày thành lập và tròn 80 năm kể từ khi cầm quyền đã hun đúc và chứng minh bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Với bệ phóng lịch sử vững chắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc ta sẽ vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, sớm hoàn thành hai mục tiêu 100 năm vào năm 2030 và năm 2045 như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 đã xác định.

Theo VietNamNet