
Liệt nửa người phải sau khi nhờ chị gái giác hơi
Anh N.V.S. (37 tuổi, trú tại TPHCM) có thói quen nhờ chị ruột giác hơi tại nhà mỗi khi đau lưng, đau vai gáy. Lần giác hơi gần nhất diễn ra vào buổi chiều, chỉ một ngày trước khi anh phải nhập viện cấp cứu vì đột quỵ. Khi nhập viện, các vết hằn của dụng cụ giác hơi vẫn còn rõ trên vùng cổ bên trái.
Sau khi giác hơi, anh S. xuất hiện tình trạng ý thức lơ mơ, mất hoàn toàn khả năng ngôn ngữ và liệt nửa người phải nên gia đình đưa đi cấp cứu.
Kết quả thăm khám và chẩn đoán hình ảnh cho thấy bệnh nhân bị đột quỵ nhồi máu não bán cầu trái giờ thứ hai, do tắc động mạch cảnh trong trái và động mạch não giữa trái bởi huyết khối. Nguyên nhân được xác định là bóc tách động mạch cảnh trong liên quan đến việc giác hơi vùng cổ.

Tiến sĩ, bác sĩ Tạ Vương Khoa, trưởng ê-kíp can thiệp mạch (Đơn vị can thiệp thần kinh, khoa Nội thần kinh - BV Quân Y 175 TPHCM) cho biết các sang chấn tác động từ bên ngoài vào vùng cổ, từ các sang chấn có lực tác động mạnh như tai nạn giao thông hay đả thương, các động tác mát-xa vùng cổ, đều có thể gây chấn thương cho động mạch cảnh trong, nghiêm trọng nhất là gây bóc tách động mạch dẫn đến đột quỵ mà phần lớn là đột quỵ nhồi máu não.
Trường hợp của anh S. là dạng đột quỵ nặng, tử vong theo một số nghiên cứu lên đến 40% nếu không được kịp thời điều trị.
Những ai không được giác hơi
Theo bác sĩ Lê Thị Thúy Hằng – Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM (cơ sở 3), giác hơi là phương pháp chữa bệnh cổ xưa, đã xuất hiện từ hàng nghìn năm trước và được sử dụng trong nhiều hệ thống y học cổ truyền. Phương pháp này dùng các ống giác tạo áp suất âm trên da, gây xung huyết tại chỗ nhằm hỗ trợ lưu thông khí huyết và giảm đau.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn y học hiện đại, cơ chế tác dụng của giác hơi vẫn chưa được xác định rõ ràng và phương pháp này có nhiều chống chỉ định tuyệt đối.
Thứ nhất là nhóm người có bệnh lý mạch máu, đặc biệt là bệnh động mạch cảnh, phình mạch, xơ vữa nặng hoặc tăng huyết áp không kiểm soát tuyệt đối không giác hơi vùng cổ - vai - gáy, do nguy cơ bóc tách mạch máu và đột quỵ.
Thứ hai là những bệnh nhân ung thư, suy tim, suy gan, suy thận nặng, người mắc rối loạn đông máu, đang dùng thuốc chống đông, phụ nữ mang thai, người đang sốt cao, nhiễm trùng cấp tính hoặc có tổn thương da cũng không nên áp dụng giác hơi.
Bác sĩ Hằng nhấn mạnh, giác hơi chỉ nên được thực hiện khi có chỉ định phù hợp, bởi người có chuyên môn và tuyệt đối không làm theo thói quen hay truyền miệng. Đặc biệt, việc tự giác hơi tại nhà, nhất là ở vùng cổ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường.
Về chỉ định, Y học cổ truyền thường sử dụng giác hơi trong các trường hợp ngoại cảm phong hàn, ho suyễn, đau bụng, tiết tả, phong thấp và các chứng đau nhức cơ xương. Trong thực hành hiện đại, giác hơi còn được áp dụng để hỗ trợ điều trị đau cổ vai gáy, đau lưng, đau đầu, viêm khớp, hen suyễn và một số bệnh mạn tính khác, với vùng lưng là vị trí được sử dụng phổ biến nhất.
Kỹ thuật giác hơi yêu cầu người thực hiện có kinh nghiệm, thao tác đúng và kiểm soát tốt nhiệt độ để tránh bỏng. Thời gian lưu ống giác thường từ 5 đến 10 phút, sau đó cần theo dõi phản ứng tại chỗ và toàn thân của người bệnh. Sau khi giác hơi, bệnh nhân nên nghỉ ngơi, tránh tắm rửa ngay và không sử dụng rượu bia hay các chất kích thích.
Các phản ứng thường gặp là bầm tím nhẹ, tự hết sau vài ngày. Tuy nhiên, một số biến cố như bỏng, nhiễm trùng da, bọng nước, chóng mặt hoặc mệt mỏi có thể xảy ra nếu kỹ thuật không đảm bảo.
Vì vậy, việc tuân thủ đúng chỉ định, chống chỉ định và quy trình kỹ thuật là yếu tố then chốt để phát huy hiệu quả và đảm bảo an toàn của liệu pháp giác hơi.

Theo VietNamNet