Không nỡ để người thân nhìn thấy hình hài Bình, anh em địa chất đã chôn anh ngay bờ sông.
Từ
thủy điện Sơn La, ngược dòng sông Đà, rẽ vào các nhánh sông nhỏ đổ ra
Đà giang, có vô số thủy điện lớn nhỏ. Ngược dòng Nậm Mu gặp thủy điện
Huội Quảng, rồi thủy điện Bản Chát. Thủy điện Nậm Nhùn (còn gọi là thủy
điện Lai Châu) nơi thượng nguồn sông Đà có công suất bằng một nửa thủy
điện Sơn La.
Những kĩ sư địa chất đã phải lăn lộn hàng chục năm trong rừng, mới tìm được những địa điểm phù hợp xây dựng thủy điện.
Vượt
dãy núi Pi Toong sừng sững, rồi đi bằng xe máy, cuốc bộ, tôi mới đến
được thác Nà Cương. Từ đây tiếp tục đi thuyền ngược sông Nậm Mu.

Thủy điện Sơn La
Những
con đường người lính địa chất đi qua thực sự nguy hiểm, phải lần mò,
bám vào vách đá, dây rừng để đi. Chỉ sểnh chân là rơi xuống vực thẳm,
hoặc mất hút dưới lòng sông cuộn đỏ.
Đã có
một số dân cư, kể cả lính địa chất sông Đà sẩy chân, bỏ mạng ở cái vực
thẳm này. Nơi đây, những dãy núi đá xám ngắt chìm trong mây mù, nơi cư
ngụ của người Mông, người Thái đen và người La Ha. Đất canh tác không có
nên đến mùa giáp hạt ngô sắn cũng không có mà ăn.
Thủy
điện Huội Quảng xây dựng, những con đường kì công xuyên núi đã được mở,
bà con được tái định cư ra những nơi có đất đai sản xuất, được cấp vốn
làm ăn, cuộc sống đỡ vất vả hơn.
Đứng trên
dãy núi Hua Trai lừng lững kéo dài từ Trạm Tấu về, phóng tầm mắt nhìn
xuống thung lũng, thấy gương mặt dòng Nậm Mu xếp chồng lên nhau như
những nếp nhăn dài. Nó dềnh lên trong mắt sự hoang vu, mông muội trong
cái ánh sáng lấp lánh của những câu chuyện cổ xưa.
Doi cát nhô ra, buổi chiều tím lại. Các cô gái Thái ra sông tắm khỏa trần với làn da lên màu men sứ nguyên sơ đến lạ lùng.

Sông Nậm Mu
Dòng
Nậm Mu đẹp lắm, nhưng thác thì dữ dội, chẳng năm nào không nuốt mất vài
mạng sống của ông lái đò, của những trẻ nhỏ, kể cả những người lính địa
chất đã quá dạn dày với núi sông, rừng thẳm.
Tôi
cùng mấy kĩ sư địa chất trượt từ sườn Hua Trai xuống bản Nà Lếch, nằm
ngay bên con sông Nậm Mu, nơi có người kĩ sư địa chất nằm lại. Phải bám
dây rừng, vằm những ngón tay bầm dập vào mép đá suốt 2 tiếng đồng hồ mới
tới nơi. Ngoài kia, những bãi cát lấp lánh, bên chân núi, bãi cỏ gianh
rậm rì. Những dấu chân người in trên cát cũ kỹ.
Vạch
bãi cỏ gianh, một nấm đất buồn thảm, với những cọng hương lạnh lẽo. Đó
là ngôi mộ của kĩ sư Phạm Văn Bình, mất năm 2004. Anh Bình quê ở thành
phố Hạ Long (Quảng Ninh), sinh năm 1978, ra đi mãi mãi khi tuổi đời còn
quá trẻ.

Cưới vợ được mấy ngày, Bình đã phải xa vợ, ngược sông Đà. Anh đã ra đi mãi mãi, để lại người vợ trẻ và chưa có được mụn con...
Kĩ
sư Huỳnh Phong bảo, cuộc đời của người lính địa chất là vô số những
trận sốt rét rừng, là những bữa cơm ngô, sắn vàng mắt. Bình là thế hệ kĩ
sư trẻ, là mũi nhọn xung kích của ngành địa chất nước nhà…
Họ
nhớ lại những đêm anh em, thầy trò trong căn lều giữa mùa đông sương
muối nơi rừng thẳm, phải chia nhau từng chén nước, hút chung điếu thuốc,
chung mối dăn dở của tình yêu, chung cái sự nhớ nhung miền xuôi đến nao
lòng.
Phạm Văn Bình là một kĩ sư khoan
năng động, xốc vác, có trách nhiệm với công việc, sẵn sàng đi hết cánh
rừng này, dòng sông khác theo lớp kĩ sư già để học tập, nâng cao tri
thức, cũng là để chia sẻ cái nhọc nhằn mà lớp cha chú đã trải qua.
Đó
là buổi chiều tháng 5.2004, khi mọi người dọn cơm trong căn lều dã
chiến, thì không thấy Bình đâu. Lúc anh em nghỉ ngơi thì Bình nằng nặc
đòi sang bên kia sông kiểm tra lại mũi khoan. Với người lính địa chất,
những mũi khoan cực kì quan trọng.
Sớm mai, Bình sẽ nghỉ phép vài ngày, về Hà Đông thăm người vợ mới cưới, nên anh muốn mọi việc đã làm được suôn sẻ.
Chờ mãi không thấy Bình đâu, anh em ăn trước. Đang ăn, một cô bé người Thái cuống quýt vào lều bảo: “Chú Bình bị lũ cuốn rồi”.
Anh
em náo loạn chạy ra bờ sông. Chẳng thấy Bình đâu. Chỉ thấy dòng sông
cuộn đỏ. Cơn mưa bất chợt phía thượng nguồn, trong chớp mắt dòng sông đã
trở thành tử thần hung dữ.
Cô bé người
Thái kể rằng, Bình bám dây cáp bơi qua sông (anh em địa chất căng cáp
qua sông rồi bám vào cáp bơi qua, bơi lại). Khi bơi ra giữa dòng, thì lũ
ập về. Những súc gỗ lao vun vút. Sức thanh niên cũng không trụ nổi dòng
nước hung hữ như quái vật.
Đêm đó, anh em
đội mưa chạy dọc sông Nậm Mu, ra tận sông Đà, nhưng cũng không tìm thấy
Bình. Đồng bào Thái căng lưới, móc lưỡi dày đặc dòng Nậm Mu, nhưng xác
Bình vẫn mất hút.

Để tìm ra nơi xây đập, đã có nhiều lính địa chất bỏ mạng
Phải
đến một tuần sau, một ngư dân mới với được xác người kĩ sư trẻ này.
Nhìn xác anh, không ai cầm nổi nước mắt. Loài cá lăng, chiên, to như quả
bom, lừ đừ dưới nước, nặng 50-60kg đã ăn mất nhiều bộ phận. Anh em chỉ
còn nhận ra Bình qua tấm áo.
Không nỡ để
người thân nhìn thấy hình hài Bình, anh em địa chất đã chôn anh ngay bờ
sông. Vài ly rượu tiễn Bình về chín suối. 26 tuổi đầu, vừa cưới vợ được
mấy ngày, chưa có mụn con, Bình đã bỏ mạng vì rừng xanh núi thẳm.
Lần
qua mấy con ngõ nhỏ, tôi tìm đến nhà kĩ sư địa chất Trần Việt Tiến. Năm
tháng lãng mạn và khốc liệt của đời địa chất nơi rừng thiêng nước độc
vẫn còn in đậm trên gương mặt và mái tóc muối tiêu.
Trong
câu chuyện xưa, thi thoảng ông lấy khăn lau những giọt nước mắt lăn
dài. Ông là người chứng kiến cái chết bi tráng của đồng nghiệp năm xưa
khi khảo sát xây dựng thủy điện Sơn La.
Ấy
là vào mùa hè năm 1988. Cơn bão số 5, mưa như trút nước nơi thượng
nguồn, khiến dòng sông Đà mang gương mặt thẫm đen. Nó thực sự biến thành
Ma-cà-rồng trong con mắt lính địa chất.
Khi
đó, đoàn địa chất đang khảo sát ở bản Bậu, thuộc xã Tạ Bú, để tìm chỗ
xây thủy điện Sơn La. Anh em buộc phải rút về, chờ lũ xuống mới tiếp tục
công việc.
Đoàn lính địa chất có 9 người,
gồm anh Tiến, anh Tuấn, chị Hoa, anh Ninh, anh Hoa, anh Chánh, anh
Tưởng, anh Tỵ, anh Dương cùng lên chiếc thuyền của người Thái xuôi về
bản Tà Lềnh. Từ đây, sẽ có xuồng chở về Hòa Bình.
Nhưng
đoạn sông qua Tà Lềnh bỗng nổi sóng. Con thuyền bị dòng xoáy hút mất
tăm. Anh em bảo nhau bình tĩnh, rời thuyền, bơi tránh dòng xoáy.

Ông Trần Văn Tiến nhớ lại những đồng nghiệp đã bỏ mạng vì sông Đà
Anh
em địa chất đều bơi giỏi, nên rất bình tĩnh. Anh Ninh và chị Hoa cùng
bám vào chiếc hộp máy bằng xốp. Tuy nhiên, miếng xốp quá bé, chỉ đủ cho
một người.
Anh Ninh đã nhường miếng xốp
cho chị Hoa, rồi tự mình bơi vào bờ. Chị Hoa cứ bám vào miếng xốp, mặc
kệ dòng nước đưa đẩy, chờ người ra vớt.
Lúc
mọi người bơi vào bờ, kiểm lại, không thấy anh Ninh và anh Hoa đâu.
Thác Tà Lềnh nổi tiếng là “miệng quỷ”, từng “nuốt” không biết bao nhiêu
mạng người. Phải một tuần sau, mọi người mới tìm thấy xác anh Hoa nổi
dập dềnh ở Vụng Ma, còn xác anh Ninh trôi về tận bến phà Vạn Yên, cách
Tà Lềnh tới 100km.
Người ta đưa xác hai anh
lên thuyền, chở về nghĩa trang Chăm Mát (thị xã Hòa Bình) an táng.
Nghĩa trang này là nơi chôn cất rất nhiều lính địa chất sông Đà và những
người hi sinh vì thủy điện Hòa Bình, thủy điện Sơn La.
Ngày
khởi công thủy điện Sơn La, rồi ngày khánh thành thủy điện, thực sự là
ngày hội, ngày vui. Nhưng đó cũng là ngày những kĩ sư địa chất âm thầm
đi tìm chỗ đắp đập ngăn sông mới.
Chẳng
mấy ai biết rằng, họ chính là những người đầu tiên đặt mũi khoan xuống
lòng sông. Họ là những người bị bỏ quên sau núi non và mây mù.
Theo VTC