Anh họ tôi viết thư:“ năm nay vừa khánh thành nhà thờ họ, nên giỗ xuân làm lớnlắm. Em nhớ đưa cháu về nhận mặt bà con. Hôm xây nhà thờ anh đã đóng choem hai xuất hết hai triệu đồng...”.

Năm nay thanh minh nhằm dịp công tyvào mùa cao điểm, nhưng cũng phải nghỉ phép vài ngày để về, lâu lắm chưadự thanh minh, bà con trách mắng quá. Dân Quảng Nam mà nói gay thì phảibiết: “Mi lòm cái chức chi to lắm to đến nỗi quên quê cha đất tổ?”.

Nghe nói tộc Trần của tôinhóm họp lại dưới sự chủ trì của ông Tỷ, tộc trưởng. Lần đầu về nhận họhàng nên tôi khá bồn chồn. Từ nhỏ sống bên ngoại, mang họ ngoại rồi lưulạc xa quê gần hai chục năm trời, tôi không biết nhiều về dòng dõi củamình. Bà ngoại tôi vốn không ưa tộc Trần, mỗi lần ông ngoại tôi kểchuyện bên nội của tôi, bà thường nạt: “Nói hoài chuyện đó nghe điếc lỗđít quá!”. Bà ít khi nào vuốt ve hay kể chuyện cho con cháu nghe, bàchửi ông tôi sa sả suốt ngày, ông lầm lũi chịu đựng và cười cười trôngrất tội nghiệp. Sau này lớn lên lập gia đình rồi tôi vẫn sợ bà phátkhiếp. Mỗi lần bà đến thăm, cả nhà im thin thít đố dám cười giỡn.

Họ tộc khá đông, bà contề tựu trên dưới trăm người. Khi ông tộc trưởng tuyên đọc sao phú ý (giaphả) tôi mới biết nhánh của tôi chỉ còn hai anh em con chú con bác. Contôi cứ trố mắt nhìn mấy ông già áo dài khăn đóng rồi ngơ ngác nhìn lũtrẻ bụng ỏng rốn lồi ồn ào chen lấn quanh mấy nong thịt trâu để ngoàisân. Tôi mang máng nhớ hồi nhỏ tôi cũng háo hức như vậy. Con tôi bây giờkhông chịu ăn. Chị dâu tôi bưng chén tận tay, nó nhón miếng thịt bỏ vàomiệng và nhăn nhó. Xấu hổ vì sự khảnh ăn của con, tôi nói: “Chị để đócho em”. Tôi lôi thằng bé ra sau nhà phát một cái thật đau vào mông. Nókhông khóc chỉ nhìn tôi, hai dòng nước mắt chảy dài trên đôi gò má bướngbỉnh. Tôi thở dài.

Lúc sáng, cả họ kéo ra mảtổ, ông Trần Tỷ dẫn đầu. Giữa mả tổ và gò làng là khoảng đất trống toànsỏi, không trồng tỉa được gì, chỉ để cho lũ trẻ chăn trâu tụ tập chơiđùa và để chôn người chết. Ông ngoại tôi kể, hồi khởi nghĩa năm bốn lăm,ông Tỷ treo dao bỏ nghề mổ trâu bò tham gia kháng chiến. Được giao nhiệmvụ chỉ huy đội dân quân chiến đấu, ông thường dẫn họ ra để tập quân sự.Khi tập đi đều thay vì hô “Một, hai, trái, phải”, ông lại hô “Gò l... à.n... g dậm, mả tổ dậm, gò làng dậm, mả tổ dậm...”. Chuyện đó sau nàyđược mọi người kể lại như chuyện tiếu lâm, mà cách hô như vậy lại dễhiểu nên dân quân đi đều tăm tắp.

Thanh minh
Minh họa: Văn nguyễn  

Nhìn điệu bộ hăng hái radáng chỉ huy của ông Tỷ, tôi bật cười, anh họ tôi hỏi:

- Mi cười cái chi?

- Cười ông Tỷ - tôi trảlời.

Anh tôi nói:

- Ông Tỷ rất ghét bà cốngoại của mi, hồi chín năm xã được phát lá cờ, sáng thứ hai dân chúng tụtập ra sân đình chào cờ. Ông Tỷ không cho bà chào, nhưng bà ấy cũngngang, bảo: “Cờ của nhà nước tao cứ chào đố cha thằng mô không cho?”.Không cản được bà cho nên khi chào cờ, ông Tỷ hô: “Chào cờ xã ta...chào, trừ con mẹ Khóa không cho nó chào!”.

Tôi lại cười, anh tôibảo:

- Thôi lại đây tau chỉ mảcha của mi cho biết, cái mả nằm chỗ ni không xây được, trâu đạp sụp lởhết, người ta gọi như vậy là động mả nên cuộc đời của mi tha phương lậnđận hoài, không ra cái chi.

Nghe anh nói tôi mới hiểucâu mà bà ngoại tôi thường chửi hồi còn nhỏ mỗi khi tôi đánh nhau với lũtrẻ cùng xóm: “Động mả cha mi hay sao mi đánh nhau với nó”. Cái cách nóingang ngược của bà ngoại tôi chắc có di truyền từ bà cố.

Họ Trần và họ Nguyễn cómối thù khá lâu đời, nguyên nhân chỉ vì miếng đất nhỏ cạnh gò làng, bâygiờ là nghĩa địa của tộc Trần. Ngày xưa họ Trần rước thầy địa lý, thầybảo miếng đất ấy có thế “bút nghiên”, nếu táng cốt cụ tiền hiền vào đócon cháu sẽ phát đường văn chương, có người đỗ đạt vinh hiển. Lúc ấy,miếng đất của họ Nguyễn, họ Trần dọ mua không được lập kế mở sòng xócđĩa, cụ tổ họ Nguyễn mê bài bạc đánh thâu đêm thua dần hết sản nghiệpnên bán cả miếng đất hương hỏa. Sau con cháu biết được hùn tiền chuộclại nhưng họ Trần nhất định không trả, thế là đâm ra thù hằn. Con traicon gái hai họ không được lấy nhau. Chẳng hiểu trời xui đất khiến thếnào mà cha tôi và mẹ lại yêu nhau.

Ông nội tôi, ngoài cái lòmổ cung cấp thịt cho cả huyện còn là chủ sở hữu một vùng ruộng đất “còbay thẳng cánh”. Cha tôi là người duy nhất trong làng được ăn học ởthành phố. Mẹ tôi học xong tiểu học rồi ở nhà làm ruộng như bao cô gáikhác trong làng. Suốt ngày lam lũ mà mẹ vẫn đẹp, nước da trắng như trứnggà bóc. Trung úy Sáu đồn trưởng đồn Bốn Lăm chết mê chết mệt vì mẹ. Bàngoại tôi tính gả mẹ cho anh ta, nhưng ông ngoại cản: “Thà để nó ở giáchứ nhất định không gả cho lính, thời buổi chiến tranh lính dễ chết lắm,con mình góa bụa sớm”. Khi cha tôi cùng bạn bè đi biểu tình bị nhàtrường đuổi học về nhà, gặp mẹ. Nhờ có chút chữ nghĩa và mấy bài thơtình của Nguyễn Bính, cha đã làm lu mờ hình ảnh võ biền dao găm súng lụccủa trung úy đồn trưởng (nghe nói con gái thời đó rất yêu thơ). Dĩ nhiênchuyện tình của họ bị ngăn cấm và tôi là kết quả của mối tình trớ trêuấy, bà ngoại bắt mẹ về giam trong buồng không cho ra ngoài. Buồn chuyệntình yêu, ông nội không cho đi lính cộng hòa, cha tôi nhảy núi theo cáchmạng, nhưng rồi chịu không nổi gian khổ lén trở về nhà, bị trung úy Sáudẫn lính phục kích bắt được trói ngoài bụi chuối sau hè bắn cả băng súnglục vào đầu. Hay tin mẹ tôi lên sản hậu chết ngay trên giường sinh, lúcấy (nói theo cách của bà ngoại tôi): “Mẹ nó chết lúc nó còn nhỏ nhưchiếc dép Nhựt”.

Tôi ở với bà ngoại, lớnlên như cây cỏ. Bọn trẻ thường trêu tôi “Con cút cụt đuôi ai nuôi màylớn?”. Từ nhỏ tới năm mười lăm tuổi không tốn viên thuốc, bệnh thì bứtlá trong vườn nấu lên xông cho toát mồ hôi ra, đạp gai dùng thanh trevừa đập, vừa hát “Đập máu đập mủ ông Thủ lể gai mai lành mốt đi chơi”.Vậy là xong! Bây giờ con tôi hở tí là thuốc nhưng cứ èo uột cả năm, naybệnh, mai bệnh.

Năm tôi đậu đại học, bàtôi: “Mày nhờ đổi qua họ Nguyễn có được vài chữ, ráng mà học”. Bà tôithường chế nhạo: “Tộc Trần tưởng giành được miếng đất táng cốt có thế“bút nghiên”, ai dè gặp thằng thầy địa lý dốt chứ thực ra cái thế đất ấylà thế “dao thớt” nên tộc Trần nhà mày toàn làm nghề đồ tể”. Tôi vẫn cứthắc mắc, chính ông ngoại mới họ Nguyễn chứ đâu phải bà mà bà hằn học,còn ông lại không nói gì. Mỗi lần đem chuyện này hỏi ông, ông chỉ cười,nhỏ nhẹ nói: “Sau này lớn lên con sẽ biết”.

Tôi ngồi bên mộ cha, nhìnvề phía cánh đồng, lúa sạ vụ hè thu đã lên cao, gió đưa thoang thoảngmùi bùn đất, tôi căng mũi hít đầy lồng ngực mùi đồng quê ngai ngái mà đãlâu lắm rồi chưa có dịp thưởng thức. Phía bên kia cánh đồng, trên ngọnđồi nhỏ là chỗ nằm của mẹ tôi. Thật tội nghiệp cho hai người, mối tìnhcủa họ bị ngăn cách, đến lúc thành tro bụi vẫn không được gần nhau. Mấyngày qua tôi cố vật nài xin được dời mộ cha lên đồi nằm gần mẹ nhưng cảhai họ không ai đồng ý cả. Trước khi mất, ông ngoại tôi kêu đến gần vànói: “Hồi trước ông có quen cô gái bên tộc Trần cũng bị cấm nhưng ôngkhông dám vượt rào, khi lấy bà của cháu ông vẫn còn thương cô gái ấy,nên bà ghét tộc Trần là vì vậy. Khi cha mẹ của cháu yêu nhau, ông ủng hộhết mình, thật tiếc! Kết cục của chúng quá bi thảm bởi sự thâm thù ácnghiệt của hai dòng họ. Trước khi hấp hối, mẹ cháu có xin được nằm gầnmộ chồng nhưng ông đành chịu thua, đời cháu văn minh cố gắng thực hiệngiùm ông”. Nói xong, từ hai khóe mắt nhăn nheo của ông ứa hai giọt lệđùng đục rồi ra đi. Tôi lặng lẽ khóc, khóc không có tiếng, chỉ có nướcmắt tuôn không dừng được.

Ngước mặt nhìn trời, tôithảng thốt nói với vong linh ông: “Ông ngoại ơi! Hãy tha lỗi cho cháu,cháu đành chịu thất hứa với ông, mong sao tới đời con của cháu, nó sẽlàm được điều ông mong muốn”.

Hôm sau, chào họ hàng,cha con tôi trở lại miền Nam. Tôi cầm giày trong tay, đi chân trần trêncỏ để tìm lại cái cảm giác khoan khoái “băng đồng lội ruộng” của thờithơ ấu trên đồng đất quê nhà. Con tôi nhăn mặt nói: “Ba đi chân không,mất vệ sinh, coi chừng bị lãi móc đó”.

Đến bờ sông Giao Thủy tôicòn ngoái đầu nhìn lại con đường làng và cánh đồng tít đằng xa, con tôiníu tay tôi giục: “Đi thôi ba, mau về nhà, con chịu hết nổi rồi...”. Tôiđau đớn nhận ra con tôi đã quá xa lạ với “quê cha đất tổ”. Tôi thẫn thờnói: “Đi thì đi!”. “Không, về chứ ba!”. “Ừ thì về!”.

Đò... ơi! Đ... o... ò...!

Tôi cố kéo dài giọng chogiống ông tôi ngày xưa, tiếng gọi của tôi tan vào cơn gió từ dòng sônglồng lộng thổi. 

Truyện ngắncủa Nguyễn Một
TNO