Sau 3 năm thực hiện cam kết với WTO về việc mở cửa thị trường bán lẻ, quy môthị trường ngày một rộng mở nhưng cơ hội đang dần thu hẹp đối với các DN VN.Mô hình liên kết các DN để tạo nên những đầu tàu trở thành đối trọng với cáctập đoàn phân phối bán lẻ nước ngoài khó có thể trở thành hiện thực bởi sựlỏng lẻo, thiếu nỗ lực thực hiện cam kết.

Hơn lúc nào hết, câu hỏi: Việc thiết lập cơ chế, chính sách tạo điều kiệncho các DN phân phối VN phát triển có phải là cây đũa thần tạo sức mạnh tứcthì cho các DN VN lại được đưa ra.

Tạp chí Fortune vừa công bố danh sách thường niên 500 Cty có doanh thu lớnnhất thế giới (Fortune 500), “đế chế” bán lẻ Wal-Mart đã qua mặt cả các tậpđoàn dầu lửa vốn chiếm ưu thế áp đảo trong những năm gần đây để vươn lên vịtrí số 1 trong bảng xếp hạng với doanh thu hơn 408 tỷ USD trong năm 2009.Wal-Mart đã thiết lập được hệ thống bán lẻ khổng lồ trên toàn thế giới và cótới 2.100.000 nhân viên.

Thông tin này có vẻ không liên quan đến thị trườngphân phối bán lẻ VN nhưng nó cho thấy vị thế ngày càng quan trọng của ngànhdịch vụ phân phối, bán lẻ đồng thời cho thấy khả năng “xâm lấn” của “đế chế”Wal-Mart trên toàn cầu..

Tiềm năng rộng mở, cơ hội thu hẹp

Trong một cuộc hội thảo gần đây, bà Đinh Thị Mỹ Loan - Phó Chủ tịch Thường trực,Tổng Thư ký Hiệp hội các nhà bán lẻ VN cho biết: Bán lẻ là kênh tiêu dùng ngàycàng quan trọng. Tuy nhiên hiện mới chỉ chiếm 22% trên cả nước, so với các quốcgia khác VN vẫn ở mức độ thấp, (Thái Lan 34%, Trung Quốc 51%...).

Theo Bộ Công Thương, loại trừ yếu tố giá, mức tăng trưởng doanh số bán lẻ hànghóa, dịch vụ năm 2009 tăng gần 12% so với năm 2008 đạt khoảng 55,5 tỷ USD. Tổngmức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ được nhận định sẽ còn tiếp tục tăngtrên 20% trong năm 2010, tương đương khoảng 65 tỷ USD. Cty nghiên cứu thị trườngtoàn cầu RNCOS (Mỹ) cũng dự báo thị trường bán lẻ VN sẽ đạt doanh số 85 tỷ USDvào năm 2012. 

Theo đánh giá chung của ngành chức năng, sau hơn một năm mở cửa hoàn toàn chocác DN bán lẻ 100% vốn nước ngoài, đến thời điểm này các tập đoàn bán lẻ quốc tếđã không ồ ạt xâm nhập thị trường VN như dự đoán.

Tuy nhiên khó có thể nhìn vàohiện tượng đó để đánh giá thực trạng cũng như diễn biến trong thời gian tới bởikhủng hoảng kinh tế có làm chậm lại hoạt động đầu tư nhưng các tập đoàn phânphối, bán lẻ lớn như Big C, Metro, Parkson, Lotte... đều có những kế hoạch vàbước đi rất cụ thể đối với thị trường VN.

Thị trường phân phối, bán lẻ VN: “Đũa thần” ở đâu?
Khi 4 DN hàng đầu trong lĩnh vực phân phối liên kết thành lập công ty cổ phần tập đoàn phân phối Việt Nam (VDA) đã đặt ra nhiều kỳ vọng nhưng đến thời điểm này VDA vẫn chưa có đóng góp gì nhiều vào hệ thống phân phối bán lẻ của VN

Xét trên mọi bình diện, các DN phân phối bán lẻ của VN gặp bất lợi trong cuộcđương đầu với các đại gia bán lẻ nước ngoài: tính chuyên nghiệp; nguồn lực tàichính; cơ sở hạ tầng; công nghệ... Có thể dễ dàng nhận thấy những khó khăn màcác DN sản xuất của VN sẽ gặp phải khi hệ thống phân phối, bán lẻ bị chi phốibởi các tập đoàn phân phối nước ngoài.

Với trên 90% DN của VN có quy mô nhỏ vàvừa, trình độ sản xuất và quy mô sản xuất còn hạn chế rất khó có thể đưa sảnphẩm vào hệ thống thương mại hiện đại. Điều này sẽ tạo ra lợi thế về đàm phánthu mua của các tập đoàn phân phối lớn, khiến các DN sản xuất phải bán hàng vờigiá thấp hoặc gia hạn thanh toán. Trong khi đó hàng rào thuế quan đang dần đượcgỡ bỏ sẽ tạo điều kiện cho hàng hoá từ nước ngoài tràn vào VN. Vì vậy sẽ rất khócho các DN sản xuất.

Làm thế nào để các DN bán lẻ nội địa giành chiến thắng trên sân nhà trước cáctập đoàn bán lẻ lớn nước ngoài là bài toán đặt ra cho không chỉ các DN bán lẻ màcòn của cả Chính phủ và các thành phần kinh tế. Một giải pháp tổng thể được đưara:

Thị trường phân phối, bán lẻ VN: “Đũa thần” ở đâu?

DN bán lẻ cần nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh; ưu tiên chất lượngsản phẩm, dịch vụ hậu mãi, liên kết phân phối hàng hóa nội địa...; nâng caotrình độ quản lý, trang bị công nghệ hiện đại, đặc biệt phải nắm bắt xu hướngphát triển thị trường để có chiến lược kinh doanh phù hợp; tăng cường liên kếthợp tác hoặc qua các hình thức mua bán, sáp nhập để xây dựng, hợp tác và pháttriển nhiều tập đoàn phân phối lớn đủ sức cạnh tranh với nước ngoài.

Nhà nướccần có những biện pháp mạnh mẽ hơn nhằm giúp các DN bán lẻ nội địa tiếp cận vớicác nguồn vốn vay, đất đai để có thể phát triển hạ tầng các cơ sở bán lẻ hiệnđại, thông qua các ngân hàng thương mại cho vay tín dụng ưu đãi với những dự ánphát triển các cơ sở kinh doanh hiện đại.

Yếu huyệt

Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của hệ thống phân phối bán lẻ VNkhông thể không nhắc tới nguyên nhân sâu xa nằm chính trong các DN. Tại các diễnđàn, hội thảo các DN thường đề cập nhiều đến những chính sách hỗ trợ, hành langpháp lý để tạo điều kiện phát triển. Nhưng dù có hỗ trợ như thế nào thì chúng tavẫn phải tuân theo các chuẩn mực và cam kết WTO, nên khó có thể kỳ vọng chínhsách như cây đũa thần lột xác cho các DN.

Năm 2007, đánh dấu một sự kiện mang tính đột phá đối với ngành phân phối, bán lẻVN khi 4 DN hàng đầu trong lĩnh vực này là Saigon Co.op, Hapro, Satra, và PhúThái group liên kết thành lập công ty cổ phần tập đoàn phân phối VN (VDA).

Sựliên kết đa thành phần với những lợi thế riêng (hạ tầng, mạng lưới...) được kỳvọng sẽ tạo được sự năng động, đưa VDA  cạnh tranh được với các tập đoàn phânphối nước ngoài đồng thời tạo cầu nối thúc đẩy thương mại nội địa phát triển,đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng trong tương lai gần.

Việc AT Kearney- một trong những Cty chuyên xếp hạng chỉ số bán lẻ nổi tiếng thế giới đã xếp VN là thị trường bán lẻ có sức hấp dẫn thứ 3 toàn cầu cho thấy VN - với 86 triệu dân, có hơn 50% dân số ở độ tuổi đời 30, có tỷ lệ tiêu dùng chiếm hơn 70% GDP sẽ là điểm đến, địa bàn cạnh tranh quyết liệt của các Tập đoàn, TCty phân phối lớn trong và ngoài nước.

Đến thời điểm này, Việt Nam đã cấp khoảng 180 giấy phép cho các nhà phân phối nước ngoài hoạt động với quy mô khác nhau. Có 119 giấy phép cấp trước ngày 1/1/2009.

Theo mục tiêu đề ra,VDA sẽ xây dựng các tổng kho hàng hóa tại các tỉnh thành trong cả nước là nơitiếp nhận hàng hóa cho mạng lưới phân phối, trở thành cầu nối cho các nhà sảnxuất. VDA sẽ tập trung vào việc xây dựng và phát triển chuỗi các trung tâmthương mại, các đại siêu thị tại các trung tâm thành phố lớn cũng như khu vựclân cận với các thương hiệu và đẳng cấp khác nhau, hình thành hệ thống cơ sở hạtầng thương mại để tạo điều kiện cho việc tổ chức lại hệ thống bán buôn, phânphối và bán lẻ hướng tới các mục tiêu: chuyên nghiệp, hiện đại, tiện ích và tincậy.

Mục đích của các nhà sáng lập VDA không chỉ mong muốn lập nên một bộ xươngvững chắc cho 4 TCty mà còn tạo nền tảng cho việc tổ chức lại hệ thống phân phốivà bán lẻ nội địa.

Nhưng một lần nữa điểm yếu cố hữu của các DN VN lại bộc lộ đó là sự liên kếtlỏng lẻo, thiếu chiều sâu, và thiếu những cam kết chặt chẽ cũng như lộ trìnhthực hiện. Sau hơn 3 năm thành lập VDA, việc thực hiện cam kết cũng như những nỗlực triển khai đại dự án trên diễn ra khá chậm chạp và đến thời điểm hiện tại,VDA vẫn chưa có đóng góp gì vào hệ thống phân phối bán lẻ của VN.

Không cần nóira thì cũng tự hiểu trong bối cảnh hiện nay các DN đều muốn tập trung vào việc“chăm lo” cho DN của mình hơn là lo đến cái chung. Trên thực tế cũng rất khó tạodựng được một mô hình để VDA không “đụng chạm”, ảnh hưởng đến hoạt động của cácDN thành viên. Sự liên kết lỏng lẻo, hình thức và hơn cả là sự bế tắc trong việctìm hướng đi cho VDA có thể coi là nguyên nhân chính khiến cho dự án khó đi vàothực tiễn.

Khi mà sự liên kết giữa các DN trong nước với nhau không mang lại hiệu quả, rấtcó thể trong tương lai, các DN phân phối sẽ tìm cách liên kết với các tập đoànphân phối nước ngoài với hi vọng sẽ nhận được sự hỗ trợ về kinh nghiệm, tàichính, công nghệ...

Nhưng nếu điều đó xảy ra sẽ không khiến các DN phân phối VNmạnh lên mà thậm chí yếu đi. Bởi mục tiêu của các tập đoàn phân phối nước ngoàivào VN là để chiếm lĩnh thị trường, thị phần và liên kết với các DN VN cũng làcách họ thôn tín để tạo ra “cái chết ngọt ngào”.

Trở lại câu chuyện của Wal- Mart, thành công của họ hội tụ bởi nhiều yếu tốvà là một quá trình lâu dài. Nhưng có thể khẳng định rằng trong hành trìnhphát triển của họ chắc chắn không có sự trông chờ vào cây “đũa thần” chínhsách mà hơn cả là sự phát huy nội lực, và nỗ lực không ngừng thực hiện cáccam kết cũng như các mục tiêu đề ra.

Ông Vũ Vinh Phú - Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội:

4 yếu điểm cố hữu

Hệ thống thương mại hiện đại: siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích... mới chỉ chiếm khoảng 20% tổng mức lưu chuyển hàng hóa. Điều này cho thấy, cơ hội vẫn còn rộng mở đối với các DN. Không chỉ tại các thành phố lớn, tập trung đông dân cư mà ngay tại khu vực nông thôn vẫn là một thị trường đầy tiềm năng bởi trên 70% dân số VN đang sống tại khu vực này. Tuy nhiên hệ thống phân phối của VN đang bộc lộ 4 điểm yếu cố hữu đó là: hạ tầng yếu; nhân lực yếu; vốn yếu và liên kết, phối hợp yếu. Hiện nay thị trường đang bỏ quên khâu bán buôn, việc buông lỏng quản lý ở khâu bán buôn đang tạo sự đứt đoạn của hệ thống phân phối, dẫn đến tình trạng đầu cơ, đẩy gía hàng hoá lên như từng diễn ra đối với gạo, ximăng và ngay cả với các mặt hàng thực phẩm...

Bởi vậy lựa chọn thị trường mục tiêu là khu vực nông thôn và có sự đầu tư thích hợp để tạo được một mạng lưới rộng khắp không chỉ giúp doanh nghiệp tránh đối đầu trực tiếp với các tập đoàn phân phối bán lẻ nước ngoài mà còn tạo được cầu nối tránh được sự đứt đoạn của hệ thống phân phối, góp phần đẩy mạnh lưu thông hàng hóa nội địa. Để làm được điều này thì điều quan trọng nhất là các doanh nghiệp VN phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Đây vẫn là một bài toán khó.

Ông Đỗ Văn Chiến - Giám đốc Trung tâm thông tin Thương mại, Công nghiệp (Bộ Công Thương) :

Mới phát triển theo bề rộng

Hệ thống phân phối trong nước hiện vẫn chủ yếu theo bề rộng, quy mô nhỏ lẻ, manh mún, thiếu sự liên kết, hợp tác, thiếu tính ổn định và chưa bền vững.

Không những vậy tôi còn lấy làm tiếc vì có những lợi thế mà các Hiệp định thương mại song phương mang lại, các DN trong nước lại chưa tận dụng được. Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ (BTA) là một ví dụ. Trong Hiệp định này, BTA đề ra lộ trình chuyển đổi để mở cửa dịch vụ phân phối từ năm 1999 đến 2009. Đây là lộ trình dài không phải hiệp định nào cũng đạt được. Trong WTO, VN không cam kết gì thêm. Tiếc rằng, vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan, các doanh nghiệp phân phối VN đã không tận dụng được thời gian chuyển động đủ dài đó. Về chủ quan các DN chỉ giải quyết nhu cầu kinh doanh ngắn hạn, chưa có sức ép cạnh tranh trực tiếp nên chưa chịu chuyển đổi. Về khách quan, chuyển đổi là quá trình nhiều thách thức và rủi ro trong khi năng lực tài chính của hầu hết các doanh nghiệp (cả DNNN và DNTN) đều yếu.

Theo Phan Nam
Diễn đàn doanh nghiệp