
Không kiểm soát được chất lượng
Tại Hà Nội, năm học 2025-2026 ghi nhận hơn 1 triệu học sinh ăn bán trú mỗi ngày. Toàn thành phố có hơn 3.100 bếp ăn học đường, chưa kể hàng loạt quán ăn xung quanh trường học cũng tham gia cung cấp thực phẩm cho học sinh. Quy mô lớn như vậy đồng nghĩa với áp lực không nhỏ lên hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm.

Sau hai tháng triển khai bữa ăn bán trú trong năm học mới 2025-2026, thành phố đã tổ chức giao ban để đánh giá, chỉ ra những hạn chế và yêu cầu các địa phương siết chặt quy trình quản lí. Theo báo cáo của Sở Y tế, Hà Nội quản lí 2.181 trường công lập với tổng số suất ăn phục vụ mỗi lần lên tới hơn 1 triệu suất. Trong đó, 824 trường tự tổ chức nấu ăn; 492 trường liên kết với đơn vị cung cấp suất ăn nấu tại trường; 445 trường nhận suất ăn chế biến sẵn từ bên ngoài.
Đoàn kiểm tra liên ngành của thành phố đã tiến hành kiểm tra thực tế tại nhiều xã, phường. Kết quả kiểm tra chỉ ra thực tế đáng lưu ý: Phần lớn việc đánh giá vẫn dừng ở mức đáp ứng các tiêu chí cơ bản theo hướng dẫn, chưa có sự phân loại rõ ràng để lựa chọn những đơn vị tốt nhất. Nhiều nơi chưa truy xuất được nguồn gốc thực phẩm đầu vào. Có nhà cung cấp nguyên liệu không đạt yêu cầu nhưng vẫn được sử dụng thông qua các đơn vị cung cấp suất ăn. Thậm chí, có tình trạng hồ sơ thẩm định một đằng nhưng thực tế cung cấp lại là một nẻo.
Những bất cập này càng trở nên đáng lo khi đặt trong bối cảnh vụ việc 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh vừa bị phát hiện. Theo cơ quan chức năng, đường dây tiêu thụ thịt bệnh hoạt động khép kín từ thu gom, vận chuyển, giết mổ đến phân phối ra thị trường. Đáng chú ý, các đối tượng đã tìm cách hợp thức hóa giấy tờ kiểm dịch để đưa thịt vào các kênh tiêu thụ hợp pháp, trong đó có bếp ăn tập thể trường học.
Điều này cho thấy, dù hệ thống kiểm soát được thiết kế nhiều tầng, nhưng vẫn tồn tại những “điểm mù” có thể bị lợi dụng. Khi các khâu kiểm soát bị vô hiệu hóa ngay từ bên trong, toàn bộ hệ thống dễ dàng bị xuyên thủng mà không để lại dấu hiệu rõ ràng ở các bước kiểm tra phía sau.
Trong bối cảnh đó, việc kiểm soát thực phẩm tại trường học hiện chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy tờ và một số biện pháp cảm quan. Theo tìm hiểu, Công ty Cổ phần dịch vụ suất ăn công nghiệp Hà Nội có hợp đồng mua bán với Công ty TNHH thực phẩm Cường Phát, đơn vị liên quan đến vụ tiêu thụ thịt lợn bệnh. Công ty này lại cung cấp suất ăn cho nhiều trường học trên địa bàn.
“Con voi vẫn lọt lỗ kim”
Lãnh đạo một trường tiểu học tại huyện Thanh Trì (cũ) cho biết, quy trình kiểm soát của nhà trường được thực hiện chặt chẽ, có sự tham gia giám sát của phụ huynh. Tuy nhiên, việc kiểm tra chủ yếu vẫn dựa vào giấy tờ và các dấu hiệu cảm quan như màu sắc, mùi vị. Điều này đặt ra câu hỏi: Liệu những biện pháp như vậy có đủ để phát hiện thực phẩm đã được “hợp thức hóa” từ trước?
Trong hồ sơ do nhà trường cung cấp, ngoài các giấy tờ liên quan đến an toàn thực phẩm, còn có danh sách mã QR để truy xuất nguồn gốc thực phẩm như rau, củ, quả, thịt, cá, bánh, sữa, trái cây. Tuy nhiên, khi quét thử một mã QR, thông tin hiển thị chỉ dừng lại ở tên đơn vị cung cấp và mã sản phẩm. Những thông tin quan trọng như quy trình chăn nuôi, giết mổ hay kiểm soát dịch bệnh gần như không có.
Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận tại một số đơn vị cung cấp suất ăn công nghiệp khác. Mỗi loại thực phẩm có thể đến từ nhiều nhà cung cấp khác nhau, kèm theo các loại giấy chứng nhận như cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, phiếu phân tích sản phẩm hay bản tự công bố. Tuy nhiên, các thông tin này chủ yếu mang tính thủ tục, chưa phản ánh đầy đủ chất lượng thực tế của sản phẩm.
Thực tế này cho thấy một nghịch lí: Có thể truy xuất được nguồn gốc thực phẩm, nhưng lại không thể xác định được thực phẩm đó có thực sự an toàn hay không. Việc quản lí đúng quy trình trên giấy tờ chưa chắc đã đồng nghĩa với kết quả đúng trong thực tế.
Ở góc độ vận hành, phần lớn bếp ăn học đường hiện nay hoạt động theo mô hình thuê đơn vị cung cấp suất ăn hoặc nguyên liệu. Nhà trường đóng vai trò tiếp nhận và giám sát, nhưng lại thiếu công cụ kiểm chứng độc lập. Khi nguồn thực phẩm đã được “hợp thức hóa” ngay từ đầu, khả năng phát hiện sai phạm ở khâu cuối rất hạn chế.
Các quy trình kiểm soát nội bộ như kiểm thực ba bước, lưu mẫu thức ăn hay ghi chép sổ sách dù được thực hiện đầy đủ nhưng nhiều khi mang tính hình thức. Những quy định này chủ yếu có tác dụng hậu kiểm, trong khi rủi ro lại nằm ở khâu tiền kiểm.
Áp lực chi phí cũng là một yếu tố không thể bỏ qua. Nhiều trường học phải cân đối mức thu tiền ăn sao cho phù hợp với điều kiện của phụ huynh, dẫn đến việc lựa chọn nhà cung cấp thường đặt nặng yếu tố giá, nguồn thực phẩm giá rẻ dễ dàng có cơ hội thâm nhập, kéo theo nguy cơ mất an toàn.
Bếp ăn học đường chịu sự quản lí của nhiều cơ quan khác nhau như giáo dục, y tế, chính quyền địa phương, nhưng lại thiếu một đầu mối chịu trách nhiệm chính. Hoạt động thanh tra thường mang tính định kì, thiếu sự kiểm tra đột xuất và thiếu liên thông dữ liệu giữa các cơ quan.
Vụ 300 tấn thịt lợn bệnh cho thấy lỗ hổng lớn trong quản lí bếp ăn học đường: kiểm soát chủ yếu dựa vào giấy tờ, thiếu kiểm chứng thực tế. Khi đầu vào bị “hợp thức hóa”, mọi quy trình phía sau dễ trở nên hình thức, tiềm ẩn rủi ro cho học sinh.

Theo Tiền Phong