
Anh cả kiện em trai đòi chia đất
Theo trình bày của ông A. (ngụ tại TP Hà Nội), ông là con cả trong gia đình có 4 anh em. Khi còn sống, cha mẹ ông đã tạo lập được thửa đất 170m2 tại Hà Nội. Sau khi lần lượt qua đời vào các năm 1963 và 1993, cha mẹ ông không để lại di chúc.
Ông A. cho rằng toàn bộ thửa đất là di sản thừa kế chưa được phân chia. Ông trình bày, năm 1980, cha ông có bán nhà đất cho em trai là ông Ch., nhưng hiện không còn giấy tờ chứng minh.
Sau đó, ông Ch. tiếp tục chuyển nhượng lại cho em trai là ông T. Tuy nhiên, các giao dịch này không có đủ căn cứ chứng minh, nên ông A. khẳng định thửa đất vẫn thuộc di sản chung của gia đình.
Mâu thuẫn trở nên gay gắt khi năm 2004, ông T. được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đứng tên toàn bộ thửa đất. Ông A. và các anh chị em cho rằng việc cấp sổ đỏ này là không hợp lý vì chưa có sự đồng thuận của các đồng thừa kế.
Đến năm 2010, ông T. xây dựng nhà trên đất và sử dụng toàn bộ diện tích, làm phát sinh tranh chấp giữa các bên.

Về phía bị đơn, ông T. cho rằng mình có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất do đã nhận chuyển nhượng một phần từ anh trai là ông Ch., đồng thời là người trực tiếp chăm sóc cha mẹ lúc cuối đời, quản lý đất liên tục từ năm 1984, đóng thuế đầy đủ và đầu tư xây dựng nhà cửa. Ông cũng cho biết gia đình từng họp năm 2009 và thống nhất để ông tiếp tục sử dụng một phần đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử TAND TP Hà Nội nhận định các giao dịch mua bán trước đây không có đủ chứng cứ chứng minh tính hợp pháp; đồng thời, việc cấp sổ đỏ năm 2004 cho riêng ông T. là chưa bảo đảm quyền lợi của các đồng thừa kế.
Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A., tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T., đồng thời xác định toàn bộ thửa đất là di sản chung và chia thừa kế theo pháp luật cho bốn người con.
Về phân chia cụ thể, ông T. được hưởng phần nhiều hơn do có công sức quản lý, chăm sóc và tôn tạo tài sản, tương đương ba suất thừa kế. Ba người còn lại mỗi người được một suất. Tổng giá trị di sản được xác định hơn 3,7 tỷ đồng.
Tòa cũng tiến hành chia đất bằng hiện vật. Cụ thể, ông T. được sử dụng khoảng 91m2, phần còn lại khoảng 75m2 giao cho ba người còn lại đồng sở hữu. Đồng thời, các bên phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản theo quy định.
Quá trình chuyển nhượng đất chưa được làm rõ
Không đồng ý với phán quyết trên, ông T. đã kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND cấp cao tại Hà Nội nhận định cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ nội dung vụ án.
Tòa phúc thẩm xác định thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do bố mẹ các đương sự để lại và không có di chúc, nên thuộc diện chia thừa kế theo pháp luật.
Tuy nhiên, quá trình sử dụng đất và các giao dịch chuyển nhượng giữa các bên còn nhiều mâu thuẫn. Dù các bên đều thừa nhận việc mua bán đất từ người cha sang ông Ch., rồi từ ông Ch. sang ông T., nhưng không thống nhất về diện tích chuyển nhượng, cũng như không cung cấp được giấy tờ hợp lệ để chứng minh.
Đáng chú ý, hồ sơ cấp sổ đỏ năm 2004 cho ông T. không có tài liệu thể hiện việc chuyển quyền hợp pháp từ người để lại di sản sang ông. Trong khi đó, tài liệu do ông T. cung cấp không đủ cơ sở xác thực, còn nguyên đơn không thừa nhận.
Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng, để giải quyết triệt để vụ án, cần làm rõ tính hợp pháp của các giao dịch chuyển nhượng và xác định chính xác phạm vi di sản. Tuy nhiên, những vấn đề này chưa được cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ, trong khi cấp phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục.
Vì vậy, TAND cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận kháng cáo của ông T., tuyên hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định.

Theo Vietnamnet