
Theo dự thảo, thời gian làm bài Ngữ văn là 120 phút, môn Toán có thể là 90 hoặc 120 phút; nội dung thi nằm trong chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS.
Điểm đáng chú ý là việc tổ chức thi tuyển không phải yêu cầu bắt buộc đối với tất cả địa phương. Sở GD-ĐT căn cứ quy mô học sinh, nhu cầu học tập, năng lực của hệ thống trường lớp và điều kiện thực tế để quyết định phương thức tuyển sinh đối với từng trường hoặc nhóm trường.
Việc tổ chức thi tuyển hoặc kết hợp thi tuyển với xét kết quả học tập chỉ được đặt ra khi số lượng học sinh đăng ký vượt quá khả năng tiếp nhận sau khi đã thực hiện điều tiết, phân tuyến mà vẫn không đủ chỗ học.
Nếu phương án này được áp dụng, học sinh sẽ có sự thay đổi đáng kể so với cách thi quen thuộc trong nhiều năm qua. Tại Hà Nội, kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm 2026 đối với trường THPT công lập không chuyên vẫn gồm Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ, với hơn 124.000 thí sinh tham dự. Vì vậy, việc chuyển từ 3 môn xuống 2 môn không đơn thuần là bớt một bài thi mà còn tác động đến cách học, cách ôn tập và phân bổ thời gian của học sinh cuối cấp THCS.
Với học sinh, giảm một môn thi có thể tạo thêm thời gian để tập trung cho những nội dung quan trọng khác. Minh Anh, học sinh lớp 9 tại một trường THCS Trưng Vương ở Hà Nội, cho rằng nếu chỉ thi Toán và Ngữ văn, học sinh có thể chủ động hơn trong việc chuẩn bị cho kỳ thi, giảm bớt áp lực ôn luyện. Tuy nhiên, em cũng cho rằng học sinh cần được biết phương án này đủ sớm để có sự chuẩn bị phù hợp, bởi kế hoạch học tập cuối cấp thường đã được gia đình và học sinh xây dựng từ trước.

Nếu phương án này thi 2 môn được áp dụng, học sinh sẽ có sự thay đổi đáng kể so với cách thi quen thuộc trong nhiều năm qua.
Một học sinh lớp 9 khác lại nhìn nhận việc có môn thi cũng tạo ra động lực học tập. Theo em, thời gian dành cho Ngoại ngữ hiện nay khoảng một nửa so với Toán và Ngữ văn. Nếu Ngoại ngữ không còn nằm trong kỳ thi tuyển sinh, học sinh có thể sẽ điều chỉnh lại thời gian học để tập trung nhiều hơn cho hai môn thi nhằm tăng cơ hội vào trường mong muốn.
Ở góc độ phụ huynh, quan điểm cũng có sự khác nhau. Chị Hải Yến, phụ huynh tại Hà Nội cho rằng kỳ thi lớp 10 vốn tạo áp lực lớn cho học sinh, vì vậy giảm một môn thi có thể giúp các em nhẹ gánh hơn. Theo phụ huynh này, việc học không nên chỉ nhằm phục vụ một kỳ thi; học sinh vẫn cần học các môn khác để có kiến thức và kỹ năng cho cuộc sống sau này.
Trong khi đó, một phụ huynh khác có con đang học THCS tại TP.HCM lại lo rằng khi một môn không còn được sử dụng trong tuyển sinh, một bộ phận học sinh có thể giảm mức độ đầu tư cho môn đó. Điều này cho thấy tác động của việc thay đổi môn thi không chỉ nằm ở số lượng bài thi mà còn liên quan đến cách học sinh và gia đình phân bổ thời gian, công sức trong năm cuối cấp.
Những băn khoăn này đặt ra câu hỏi: giảm số môn thi liệu có vẫn bảo đảm tuyển chọn được học sinh khi nhu cầu vào trường công lập còn cao? Đây cũng là bài toán cần giải quyết cùng với mục tiêu giảm áp lực thi cử.
Giảm môn thi nhưng không được giảm chuẩn tuyển sinh
Theo thầy Trần Mạnh Tùng, giáo viên Toán ở Hà Nội, việc thi vào lớp 10 chỉ còn hai môn Toán và Ngữ văn là giải pháp có thể chấp nhận được và trước mắt sẽ giúp giảm áp lực cho học sinh. Tuy nhiên, khi chỉ còn hai môn thi, gánh nặng sẽ dồn vào Toán và Ngữ văn, vì vậy cần tính toán kỹ mức độ phân hóa của đề thi để tránh học sinh chịu thiệt chỉ vì chênh lệch nhỏ về điểm số.
Thầy Tùng cho rằng không nên quá lo ngại việc không thi sẽ dẫn đến học sinh bỏ các môn khác. Điều quan trọng là phải thay đổi cách dạy và học, xác định rõ yêu cầu năng lực, kỹ năng đầu ra. Riêng với Tiếng Anh, cần phân biệt giữa học để sử dụng và học để thi.
Theo thầy, thi hai môn không phải lời giải duy nhất cho áp lực vào lớp 10. Giảm một môn chắc chắn giúp giảm áp lực, nhưng căn nguyên vẫn nằm ở việc số trường công lập và chỉ tiêu chưa đáp ứng nhu cầu. Vì vậy, cùng với giảm môn thi, cần tăng trường lớp và thực hiện tốt phân luồng sau THCS.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc thi vào lớp 10 chỉ còn hai môn Toán và Ngữ văn là giải pháp có thể chấp nhận được và trước mắt sẽ giúp giảm áp lực cho học sinh. (Ảnh minh họa: AI)
Còn thầy Nguyễn Văn Thùy (Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM) cũng cho rằng, việc giảm số môn thi cần được nhìn nhận tách biệt với số lượng môn học trong chương trình. Hai môn thi tuyển sinh không có nghĩa giáo dục chỉ coi trọng Toán và Ngữ văn, cũng không đồng nghĩa với việc học sinh chỉ cần học hai môn này. Nhà trường vẫn phải tổ chức dạy học đầy đủ các môn nhằm hình thành kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực cho học sinh.
Từ góc độ tuyển sinh, kỳ thi có một chức năng khác: cung cấp thông tin đủ tin cậy để lựa chọn học sinh khi số lượng người đăng ký vượt quá khả năng tiếp nhận của nhà trường. Vì vậy, theo thầy Thùy, nhiều môn thi hơn không mặc nhiên đồng nghĩa với một kỳ thi tốt hơn. Nếu tăng số môn nhưng chất lượng đo lường không được cải thiện, kỳ thi vẫn có thể chưa đạt được mục tiêu tuyển chọn.
Ngược lại, việc đưa thêm môn thi có thể làm gia tăng áp lực học tập và chi phí ôn luyện. Khi một môn được đưa vào kỳ thi tuyển sinh, thời gian và sự chú ý dành cho môn đó có xu hướng tăng lên, thậm chí việc dạy và học có thể chuyển mạnh sang luyện thi, tối ưu điểm số. Khi đó, điều được gọi là nâng chuẩn đôi khi lại chỉ là nâng cường độ luyện thi.
Vì vậy, theo thầy Thùy, trọng tâm không nên chỉ là tranh luận hai môn có ít hay nhiều mà phải đặt câu hỏi hai môn ấy được thi như thế nào. Nếu đề Toán chủ yếu kiểm tra những kỹ thuật quen thuộc, đề Ngữ văn thiên về ghi nhớ hoặc học theo bài mẫu thì dù thi hai hay năm môn cũng khó bảo đảm chất lượng tuyển chọn.
Ngược lại, nếu đề thi được thiết kế để đánh giá tư duy, đọc hiểu, lập luận, khả năng vận dụng và giải quyết vấn đề, đồng thời có cấu trúc chuẩn hóa, tổ chức coi thi, chấm thi nghiêm túc và bảo đảm độ tin cậy của kết quả, hai môn vẫn có thể tạo ra khả năng phân hóa cần thiết.
Toán có thể cung cấp thông tin về tư duy định lượng, khả năng suy luận và giải quyết vấn đề; Ngữ văn có thể đánh giá năng lực đọc hiểu, tư duy ngôn ngữ, lập luận và diễn đạt. Với cách thiết kế phù hợp, hai môn có thể trở thành công cụ tuyển sinh có ý nghĩa thay vì chỉ là sự cắt giảm số lượng bài thi.
Một điểm khác được thầy Thùy lưu ý là không nên mặc định rằng không thi một môn thì học sinh sẽ không học môn đó. Học sinh vẫn cần kiến thức về khoa học tự nhiên, lịch sử, địa lý, ngoại ngữ và nhiều lĩnh vực khác. “Không thi không có nghĩa là không học”. Nếu một môn chỉ được học nghiêm túc khi môn đó xuất hiện trong kỳ thi tuyển sinh, vấn đề khi ấy không chỉ nằm ở số lượng môn thi mà còn ở cách tổ chức giáo dục và đánh giá trong nhà trường.
Do đó, giảm môn thi chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với việc nâng chất lượng của chính kỳ thi. Theo cách nhìn này, mục tiêu không phải là giảm yêu cầu đối với học sinh mà là giảm những áp lực không cần thiết của việc luyện thi, đồng thời nâng trách nhiệm của hệ thống trong việc xây dựng một công cụ tuyển chọn đáng tin cậy.
“Cuối cùng, cái được gọi là “nâng chuẩn” đôi khi lại chỉ là nâng cường độ luyện thi”, thầy Thùy nhận định, đồng thời nhấn mạnh kỳ thi phải đo đúng những năng lực cần thiết cho tuyển sinh, đo đủ để lựa chọn học sinh nhưng không biến toàn bộ nền giáo dục thành một cuộc thi.
Bên cạnh chất lượng đề thi, một vấn đề khác cũng cần được đặt ra là năng lực tiếp nhận của hệ thống trường THPT. Nếu số lượng học sinh tăng nhưng số trường, số lớp và khả năng tiếp nhận không tăng tương ứng, áp lực tuyển sinh vẫn còn, dù kỳ thi có hai hay nhiều môn. Khi đó, giảm số môn thi chưa thể tự động giải quyết được bài toán cơ hội học tập.
“Giảm môn thi, vì thế, không nên được hiểu là giảm chuẩn; ngược lại, yêu cầu đặt ra là giảm số lượng nhưng phải nâng chất lượng đo lường và trách nhiệm của cả hệ thống tuyển sinh”, thầy Nguyễn Văn Thùy nói.
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, không nên giải quyết tình trạng thiếu chỗ học chủ yếu bằng cách làm cho kỳ thi trở nên căng thẳng hơn. Cùng với cải tiến phương thức tuyển sinh, cần quan tâm đến việc tăng trường, tăng lớp, cơ sở vật chất và năng lực tiếp nhận để có thêm cơ hội học tập cho học sinh. Đây cũng là vấn đề cần được đặt trong yêu cầu rộng hơn về mở rộng cơ hội học tập, bảo đảm chất lượng và công bằng trong giáo dục.
Như vậy, đề xuất chỉ thi Toán và Ngữ văn nếu được áp dụng sẽ làm thay đổi đáng kể cách tuyển sinh lớp 10, nhưng giá trị của thay đổi không nằm ở việc học sinh thi ít hơn bao nhiêu môn. Điều quan trọng là kỳ thi có giảm được áp lực luyện thi không, có đo đúng năng lực cần tuyển không và có bảo đảm đủ độ tin cậy để phân hóa học sinh hay không.

Theo VOV