Rừng ngập mặn là nguồn tài nguyên quốc gia vô giá, đặc biệt đối với các khu vực ven biển, Việt Nam luôn chú trọng phát huy giá trị của hệ sinh thái này thông qua việc hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý. Cụ thể hóa định hướng đó, Đề án bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 10/2021. Trọng tâm của đề án là đảm bảo quản lý, bảo vệ và khai thác bền vững toàn bộ diện tích rừng hiện có lẫn phần diện tích được phát triển mới. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2030, cả nước sẽ trồng mới khoảng 20.000 ha rừng ven biển, đồng thời triển khai phục hồi và làm giàu thêm 15.000 ha.

Rừng ngập mặn từ lâu được khẳng định là bể chứa các-bon hiệu quả bậc nhất trong các hệ sinh thái tự nhiên. Rừng có khả năng tích trữ khí cacbonic tốt nhất, với lượng hấp thụ các-bon nhiều gấp 4 lần so với rừng nhiệt đới truyền thống trên đất liền. Tuy nhiên, các kết quả đo đạc thực địa mới nhất tại các vùng rừng ven biển Việt Nam đang chỉ ra một nghịch lý môi trường đáng lo ngại: khi dòng chảy nội lưu bị nghẽn do phù sa bồi lắng hoặc các công trình ngăn triều, những dải rừng này lập tức biến thành nguồn phát thải khí mê-tan diện rộng. Trạng thái ngập nước tù hãm kéo dài triệt tiêu hoàn toàn oxy trong đất rễ, biến lớp sinh khối lá rụng dày đặc thành môi trường cho vi khuẩn kỵ khí sinh mê-tan hoạt động mạnh.

Ảnh số 1 (2).JPG
Ảnh minh hoạ: Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường

Các phân tích sinh thái chuyên sâu chỉ ra rằng, cơ chế phát thải mê-tan ở đất rừng ngập mặn phụ thuộc trực tiếp vào thời gian và động lực của dòng nước triều. Ở những khu vực nước tù, không có sự luân chuyển, quá trình phân hủy hữu cơ kỵ khí diễn ra liên tục, đẩy dòng khí nhà kính này khuếch tán thẳng vào khí quyển. Ngược lại, tại những nơi nước triều được lưu thông tuần hoàn, dòng chảy mang theo lượng oxy hòa tan dồi dào từ biển vào sâu trong đất bãi bồi. Sự xuất hiện của oxy đóng vai trò quyết định, giúp kích hoạt mạng lưới vi khuẩn ăn mê-tan (methanotrophs) tự nhiên sẵn có, giúp triệt tiêu khí mê-tan trước khi chúng kịp thoát ra ngoài.

Để tối ưu hóa cơ chế tự nhiên này, các địa phương ven biển đang bắt đầu thử nghiệm các biện pháp lâm sinh tác động trực tiếp vào chế độ thủy văn của rừng. Giải pháp cốt lõi là thiết lập bản đồ cao độ và khơi thông hệ thống kênh rạch, rãnh xương cá tự nhiên bị bồi lắng sâu trong lõi rừng. Việc dọn dẹp chướng ngại vật sinh khối và định hình lại các dòng chảy giúp thủy triều có thể rút nhanh, triệt tiêu triệt để nước tù hãm sau mỗi đợt triều cường. Kỹ thuật này giữ cho mặt đất rừng tăng cường độ thông khí và tái nạp oxy cho các tầng đất mặt.

Ảnh số 2 (1).JPG
Ảnh minh hoạ: Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường

Song song đó, việc ứng dụng các công nghệ quản lý điều tiết thủy triều thông minh thông qua các cửa van một chiều tại các vùng đệm đang chứng minh hiệu quả thực tế rõ rệt. Hệ thống này cho phép kiểm soát cao độ mực nước và thời gian ngập tối ưu, vừa bảo tồn các điều kiện sinh thái đặc trưng cho cây rừng phát triển, vừa ngăn chặn dòng sinh khối phân hủy kỵ khí bùng phát. Chủ động khơi thông dòng chảy nội sinh không chỉ là lời giải giúp tối đa hóa khả năng hấp thụ của các bể chứa các-bon, mà còn là bước đi chiến lược để Việt Nam đa dạng hóa các giải pháp giảm phát thải, sớm hoàn thành cam kết khí hậu toàn cầu.

 Nguyễn Long