Trong nỗ lực hiện thực hóa cam kết hành động giảm phát thải khí nhà kính, ngành nông nghiệp Việt Nam đang rà soát và tái cấu trúc phương thức canh tác trên các nhóm cây trồng cạn chủ lực. Bên cạnh cây lúa nước, cây ngô với diện tích gieo trồng lớn đang dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình lấy hạt truyền thống sang trồng ngô sinh khối. Thu hoạch ở giai đoạn bắp ngô chín sáp thay vì thu hoạch để lấy hạt lúc bắp ngô đã chín hoàn toàn. Ngô chín sáp sẽ có độ mềm, mang lại nhiều chất dinh dưỡng và sự ngon miệng cho vật nuôi. Toàn bộ cây ngô (thân, lá, bắp) thường được băm hoặc xay nhỏ để gia súc ăn trực tiếp, hoặc chế biến thành thức ăn cho gia súc như ủ chua, nén thành viên hoàn chỉnh...

Mô hình trồng ngô sinh khối có thể trồng 3 vụ/năm, thời vụ nhanh, với năng suất trung bình 45-50 tấn/ha. Ngô sinh khối có thể phát triển trên đất lúa, đất màu kém hiệu quả và tận dụng được quỹ đất nhàn rỗi rất lớn trong vụ đông ở khu vực phía Bắc.
Sự thay đổi này không chỉ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho ngành chăn nuôi đại gia súc đang tăng trưởng nóng, mà còn mở ra một dư địa lớn để kiểm soát và cắt giảm dòng phát thải khí mê-tan âm thầm từ đất. Các nghiên cứu thực địa chỉ ra rằng, quy trình trồng ngô lấy hạt trước đây tồn tại nhiều tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Do thời gian lưu gốc trên đồng ruộng dài, kết hợp với tập quán tưới tràn gây ngập úng cục bộ và bón phân hóa học mất cân đối, nền đất dốc hoặc đất bãi bồi dễ rơi vào trạng thái nén chặt. Hiện tượng kỵ khí xuất hiện tại các tầng đất rễ sâu, kích hoạt vi khuẩn sinh mê-tan hoạt động mạnh. Đặc biệt, lượng phế phụ phẩm khổng lồ sau thu hoạch hạt nếu bị chôn lấp thô trong điều kiện thiếu khí hoặc đốt bỏ tùy tiện đều tạo ra áp lực phát thải các-bon và mê-tan trực diện vào bầu khí quyển.

Mô hình trồng ngô sinh khối đã giải quyết triệt để các mắt xích lãng phí và phát thải này nhờ rút ngắn chu kỳ canh tác từ 20 đến 30 ngày so với ngô lấy hạt. Việc thu hoạch toàn bộ sinh khối cây ở giai đoạn tối ưu giúp giải phóng đất sớm, cắt ngắn thời gian hữu cơ phân hủy kỵ khí trên đồng ruộng. Đồng thời, các vùng chuyên canh hiện nay đang áp dụng đồng bộ hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước kết hợp châm dinh dưỡng tự động. Công nghệ này duy trì độ ẩm vừa đủ, giữ cho kết cấu đất luôn thông thoáng và giàu oxy. Trạng thái hiếu khí liên tục được bảo mạ giúp ức chế triệt để cơ chế sinh khí mê-tan ngay từ gốc rễ.
Ý nghĩa tuần hoàn của mô hình này còn nằm ở việc triệt tiêu hoàn toàn nguồn phát thải từ phế phụ phẩm. Thân và lá ngô được thu gom 100% để phục vụ công nghệ ủ chua làm thức ăn thức thời cho gia súc, hoặc chuyển hóa thành than sinh học bón ngược lại cải tạo đất. Việc loại bỏ hoàn toàn tập quán đốt đồng hay vùi lấp hữu cơ chưa hoai mục giúp dòng carbon được luân chuyển khép kín, không phát sinh khí thải độc hại. Chuyển đổi sang canh tác ngô sinh khối bền vững chính là lời giải hiệu quả cho bài toán kinh tế kép: vừa bảo vệ sinh kế cho nông dân, vừa giúp Việt Nam chủ động đạt mục tiêu Net Zero trong trồng trọt.
Phạm Kim Phượng